Dù vậy, Ngũ Hành Công cũng không phải là vạn năng.
Với những tu sĩ có linh căn thuộc tính cân bằng như Trần Mạc Bạch, Ngũ Hành Công là một môn huyền công thượng thừa. Linh lực tu luyện được không chỉ phù hợp với thể chất của bản thân mà tiến độ cũng không hề chậm.
Nhưng đối với những tu sĩ có thượng phẩm linh căn, nó lại chỉ là một môn công pháp bình thường.
Ví dụ như Thiên linh căn tu sĩ, họ chỉ cần tu luyện linh lực đơn nhất thuộc tính, vừa tốn ít công sức mà hiệu quả cao, pháp lực lại tinh thuần, khi phá cảnh cũng ít gặp bình cảnh hơn.
Thông thường, mỗi tu sĩ khi sinh ra đều có 100 điểm linh căn thuộc tính.
Trong các động thiên phúc địa của Tiên Môn, trước khi bước vào Luyện Khí, mỗi tu sĩ đều phải trải qua kiểm tra linh căn tỉ mỉ tại bệnh viện hàng đầu để xác định thuộc tính linh căn của mình. Chỉ khi có báo cáo đánh giá linh căn từ bệnh viện, họ mới được phép nhập học.
Ví dụ như Trần Mạc Bạch: Kim 23, Mộc 27, Thủy 23, Hỏa 17, Thổ 10.
Tiên Môn quy định, chỉ cần một thuộc tính linh căn nào đó vượt quá 20, người đó được xem là có linh căn thuộc tính đó. Trần Mạc Bạch có Kim, Mộc, Thủy tam linh căn và miễn cưỡng được xếp vào danh sách "chân linh căn".
Đây cũng là lý do khiến Lục Hoằng Thịnh ngồi cùng bàn với cậu căm giận bất bình, bởi vì linh căn của anh ta là: Kim 8, Mộc 25, Thủy 23, Hỏa 22, Thổ 22.
Thực tế, anh ta không hề thua kém Trần Mạc Bạch bao nhiêu, nhưng chỉ vì thuộc tính linh căn quá dàn đều mà bị bệnh viện xác định là "ngụy linh căn" bốn thuộc tính.
Còn "Thiên linh căn" là khi một loại linh căn trong Ngũ Hành đạt trên 80 điểm!
Nói cách khác, dù là Thiên linh căn tu sĩ, trong người vẫn có bốn loại thuộc tính linh căn còn lại, chỉ là vô cùng ít ỏi mà thôi.
Còn về Thiên linh căn hoàn mỹ 100 điểm thuộc tính trên lý thuyết, Tiên Môn trải qua vạn năm vẫn chưa từng ghi nhận trường hợp nào.
Linh lực tu luyện từ Ngũ Hành Công sẽ tự thích ứng và phối hợp với thuộc tính linh căn của mỗi người. Ngay cả với Thiên linh căn tu sĩ, linh lực tu luyện ra cũng sẽ lẫn một chút bốn thuộc tính còn lại, tựa như có thêm tạp chất không cần thiết.
Các dị linh căn tu sĩ cũng tương tự.
Tuy nhiên, những điều này hoàn toàn không quan trọng với Trần Mạc Bạch.
Cậu vận chuyển Ngũ Hành Công được trường dạy, rót linh lực Ngũ Hành vào viên thủy tinh, khiến nó phát ra ánh sáng ngũ sắc như một vầng hào quang mặt trời từ lòng bàn tay cậu bay lên.
Loại viên thủy tinh này là một món đồ chơi nhỏ để rèn luyện khả năng khống chế linh lực. Luyện Khí tầng một có thể khống chế một viên. Với thực lực Luyện Khí tầng năm hiện tại của Trần Mạc Bạch, cậu có thể đồng thời khống chế năm viên bay lơ lửng, tùy tâm sở dục.
Nhưng cậu mới vừa tiến vào Luyện Khí tầng năm, cảnh giới chưa vững chắc nên không dám gắng sức.
Dựa theo tài liệu Đinh lão đầu đưa, cậu điều khiển bốn viên pha lê bay về phía thiên điện bên phải.
Soạt.
Một làn sóng nước nổi lên, hất viên thủy tinh đầu tiên văng đi. Sau đó, một làn sóng thứ hai, thứ ba lần lượt hất văng những viên thủy tinh phía sau.
Trần Mạc Bạch cầm điện thoại, nhìn ba loại pháp thuật mà Đinh lão đầu miêu tả, nhíu mày khổ sở.
Cậu phát hiện, cấm chế gợn sóng nước của thiên điện này lại đồng thời có đặc tính của Lưu Thủy Tráo, Dũng Lãng Chú và Lân Ba Thuật. Với cảnh giới hiện tại của cậu, muốn phá giải loại cấm chế hợp lại này, trừ khi dùng phù lục mạnh, nếu không chỉ có thể đợi đột phá đến Luyện Khí hậu kỳ rồi thử lại.
"Thôi vậy, cứ tu luyện trước đi, dù sao sau này còn nhiều thời gian khám phá thủy phủ này."
Cuối cùng, Trần Mạc Bạch nhìn thời gian, quyết định không lãng phí linh địa nhị giai trung phẩm này. Cậu ngồi ngay ngắn ở tiền điện, bắt đầu nhập định tĩnh tọa tu hành.
Hôm nay cậu đã nhắn tin cho bố mẹ từ sớm, nói là muốn bế quan trong phòng, không ai được làm phiền.
Linh khí Thủy hệ tinh thuần hóa thành những hạt ánh sáng màu lam, được Ngũ Hành Công luyện hóa. Sau khi Ngũ Hành tuần hoàn tương sinh, chúng hóa thành linh lực phù hợp nhất với linh căn và thể chất của Trần Mạc Bạch, chậm rãi lưu chuyển khắp cơ thể, ôn dưỡng những kinh lạc và khiếu huyệt bị cưỡng ép phá vỡ do dùng đan dược.
Trong Tiên Môn, dù tài nguyên thiếu thốn, nhưng nhờ vạn năm gây dựng, cộng thêm chiến tranh khai thác và cướp đoạt tài nguyên, các loại linh dược về cơ bản vẫn đầy đủ. Hơn nữa, tùy theo địa mạch và khí tượng của từng động thiên phúc địa, chúng được bồi dưỡng khá tốt.
Luyện đan là một trong tứ đại khoa của Tiên Môn, kết hợp với y học, giúp tận dụng tối đa thuộc tính của dược liệu. Đây cũng là nền tảng giúp Tiên Môn có thể nuôi dưỡng 300 triệu tu sĩ bằng nguồn cung cấp từ Nguyên Nhất tinh.
Tiên Môn có gần như đầy đủ các loại đan dược thuộc tính.
Nhưng có một loại đan dược rất ít khi được luyện chế, đó là Trúc Cơ Đan.
Tiên Môn vẫn còn lưu giữ đan phương cổ xưa này, nhưng đã cấm luyện chế nó từ năm ngàn năm trước. Không phải vì đan dược có vấn đề, mà là vì nó quá lãng phí.
Trúc Cơ Đan là linh dược tam giai hạ phẩm, còn Ngọc Tủy Kim Chi - chủ dược để luyện chế Trúc Cơ Đan - lại là tam giai thượng phẩm. Dùng nó để luyện Trúc Cơ Đan thực sự quá phí phạm.
Hơn nữa, Ngọc Tủy Kim Chi có thể dùng để luyện một loại đan dược tên là "Kim Dịch Ngọc Hoàn Đan", giúp tu sĩ Trúc Cơ Kết Đan.
Nếu tài nguyên Tiên Môn phong phú, Ngọc Tủy Kim Chỉ mọc hết cây này đến cây khác trong dược viên để thu hoạch, thì việc dùng một ít để luyện Trúc Cơ Đan trong khi luyện "Kim Dịch Ngọc Hoàn Đan" cũng không phải là không thể.
Nhưng vấn đề là Tiên Môn không có nhiều tài nguyên. Dù chủng loại linh dược đầy đủ, nhưng chỉ có hai động thiên có thể bồi dưỡng Ngọc Tủy Kim Chi, mà dùng để luyện "Kim Dịch Ngọc Hoàn Đan" còn không đủ, nói gì đến lãng phí luyện Trúc Cơ Đan?
Dù các tu sĩ cấp thấp không đồng tình với điều lệ này của Tiên Môn, nhưng điểm khác biệt lớn nhất giữa văn minh tu tiên và văn minh máy móc là thượng tầng quyết định tất cả.
Giá trị của một Kim Đan chân nhân vượt xa mười tu sĩ Trúc Cơ. Vậy nên, dùng một viên Ngọc Tủy Kim Chi để luyện "Kim Dịch Ngọc Hoàn Đan" hay "Trúc Cơ Đan"?
Câu trả lời quá rõ ràng.
Chính vì vậy, với tu sĩ Tiên Môn, Trúc Cơ là một cửa ải khó khăn, thậm chí còn khó hơn lên trời.
Thời cổ đại, ít nhất vẫn còn Trúc Cơ Đan để trông đợi. Còn bây giờ, chín trên mười tu sĩ phải tự mình đột phá.
Cũng chính vì vậy, các tu sĩ Tiên Môn đều muốn vào Đại Đạo Viện.
Vì ở đó, dù không luyện Trúc Cơ Đan, nhưng họ có thể luyện linh dược kém hơn một bậc để hỗ trợ Trúc Cơ. Hơn nữa, ở đó còn có không ít bí pháp nâng cao xác suất thành công khi Trúc Cơ, kinh nghiệm Trúc Cơ thì vô số kể, luôn có thể tìm được thứ phù hợp với mình.
Tử Hỏa Đan mà Trần Mạc Bạch dùng để đột phá Luyện Khí tầng năm là đan dược do Xích Hà học phủ ở Đan Hà thành luyện chế, mỗi tháng chỉ bán ra 100 viên.
Việc Trần Mạc Bạch có thể giành được quyền mua là do một lần bán bùa, cậu quen một học trưởng của Xích Hà học phủ. Người này lại làm thêm giờ ở bộ phận chăm sóc khách hàng trực tuyến của Xích Hà học phủ, nên đã âm thầm giúp đỡ cậu.
Mỗi loại đan dược đều cần có hướng dẫn sử dụng và xác nhận uy tín.
Thời cổ đại, đã có không ít tu sĩ Tiên Môn sống dở chết dở vì ăn bậy đan dược.
Bây giờ, nếu không phải đan dược do hiệu thuốc uy tín sản xuất, không có bất kỳ tu sĩ nào dám ăn đan dược không rõ nguồn gốc, không có chữ ký của Luyện Đan sư và không có chứng nhận hợp lệ.
