Constantinople
Kể từ khi đàm phán bắt đầu, tâm trạng của Abdul Mecid I chẳng khá hơn chút nào. Vừa bị người Nga uy hiếp xong, giờ lại đến lượt đại diện của Áo lên tiếng.
Mesterser là một nhà ngoại giao thuần túy, không hề hống hách ép người như Menshikov, và yêu sách của Áo cũng không lớn như Nga, nên vẫn còn có thể thương lượng.
Abdul Mecid I kiên quyết nói: "Thưa ngài Mesterser, yêu cầu của quý quốc là quá đáng. Các công quốc Moldavia và Wallachia là những phần lãnh thổ thần thánh không thể tách rời của Đế quốc Ottoman, tuyệt đối không thể nhượng lại!"
(Ghi chú: Công quốc Wallachia nay thuộc khu vực phía Nam Romania; công quốc Moldavia nay thuộc bắc bộ Romania, Moldova, và một phần lãnh thổ Ukraine)
Tuy nhiên, khi nói những lời này, ông ta không được tự tin cho lắm, vì giờ đây họ đang bị cả Nga và Áo nhòm ngó.
Nếu chỉ đối phó với một mình Nga, với sự ủng hộ của Anh và Pháp, họ vẫn có thể cứng rắn được. Nhưng phải chống lại cả hai thì ngay cả Anh và Pháp cũng không đủ sức, đừng nói đến Abdul Mecid I.
Phân hóa Nga và Áo trở thành nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Nếu không, chiến tranh vừa nổ ra, Đế quốc Ottoman coi như xong đời.
Mesterser bình tĩnh giải thích: "Bệ hạ, hai tiểu công quốc này không phải là lãnh thổ cố hữu của quý quốc, mà chỉ là hai nước phụ thuộc mà thôi, tại sao không thể chuyển nhượng?
Từ tình hình hiện tại, quý quốc rõ ràng không có khả năng giữ được hai công quốc này. Nếu bán cho Đế quốc Áo, quý vị còn có thể giảm bớt tuyến phòng thủ giáp Nga."
Bệnh sĩ diện hão không chỉ là bản quyền sáng chế của Đại Thanh, Đế quốc Ottoman cũng chẳng kém là bao. "Chuyển nhượng", "Bán ra", Mesterser đang cố gắng giữ thể diện cho Abdul Mecid .
Dưới ảnh hưởng của văn hóa châu Âu, bán đất đai không phải là điều gì quá ghê gớm. Cách nói này dễ được chấp nhận hơn là việc cắt nhượng đơn thuần.
Nếu Áo thực sự muốn mua hai công quốc này, Abdul Mecid I cũng chẳng ngại bán đi, dù sao chiến tranh nổ ra thì cũng không giữ được.
Mặc dù hai công quốc này có địa thế bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, thích hợp phát triển nông nghiệp, nhưng vì giáp Nga và Áo nên người Ottoman hầu như không khai thác gì, bán cũng không thấy tiếc.
"Quý quốc định trả bao nhiêu tiền?" Abdul Mecid I mong đợi hỏi.
Dù thế nào đi nữa, có thương lượng vẫn hơn là không. Ngay cả khi chỉ để câu giờ, Abdul Mecid I cũng phải cố gắng kéo dài cuộc đàm phán với Áo.
Mesterser dứt khoát nói: "Bệ hạ, chính phủ Áo sẵn sàng trả một trăm triệu thaler!"
Mức giá này là rất thiện chí, dù sao ở thời đại này, đất đai chưa khai thác không đáng giá bao nhiêu.
Chưa đợi Abdul Mecid I trả lời, Mesterser lại nói thêm: "Tuy nhiên, hiện tại chính phủ Áo đang gặp khó khăn về tài chính, không thể thanh toán một lần khoản tiền lớn như vậy, chúng tôi dự định trả góp trong vòng một trăm năm."
Trả trong một trăm năm, chẳng khác nào nói đùa! Chưa kể đến lạm phát, với thực lực của hai bên, Đế quốc Ottoman có chắc sẽ nhận được tiền không?
Ai có chút đầu óc đều hiểu rằng Mesterser chỉ nói mua cho có, chứ thực chất không hề có ý định trả tiền.
Một trăm năm trả góp hoàn toàn là một tờ chi phiếu khống. Chừng nào thời hạn chưa đến, thì chưa thể nói Áo vi phạm thỏa thuận.
Thời gian dài như vậy, giữa chừng hai nước chỉ cần xảy ra mâu thuẫn hay xung đột, thậm chí là chiến tranh, thì chẳng cần phải trả xu nào.
Ngay cả khi một trăm năm sau nhận được tiền, thì cũng chẳng có tác dụng gì. Bây giờ một trăm triệu có thể mua được hơn hai trăm ngàn kilômét vuông đất, một trăm năm sau liệu có mua nổi hai mươi kilômét vuông hay không, vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
Đây chẳng khác nào ức hiếp người. Nếu cứ dễ dàng nhượng bộ sau mỗi lần bị đe dọa, chẳng khác nào nói với cả thế giới: Đế quốc Ottoman đã suy tàn, ai muốn chia cắt tài sản thì cứ đến.
Abdul Mecid I chất vấn: "Ngài Mesterser, ngài đang đùa đấy à? Trên đời này không có vụ làm ăn nào nực cười như vậy!"
Mesterser chỉ cười, không nói gì. Chính phủ Áo vốn không có ý định bỏ tiền ra mua, những lời ông ta nói ra chỉ là để xoa dịu chính phủ Sultan.
Mesterser không ngây thơ đến mức nghĩ rằng có thể chiếm được hai công quốc ven sông Danube bằng biện pháp đàm phán. Nếu dễ dàng như vậy, cần gì phải điều động quân đội?
Lằn ranh đỏ trong nước đã được vạch ra rõ ràng, cứ tùy tiện nói là được. Ngay cả khi có thể thỏa thuận xong xuôi, cũng không thể ký kết hiệp định ngay bây giờ, nếu không thì vở kịch tiếp theo diễn thế nào?
Nếu hòa giải với Đế quốc Ottoman, Áo có nên dừng lại việc chuẩn bị chiến đấu không? Dừng lại thì những chuẩn bị trước đó coi như đổ sông đổ biển; không dừng lại thì càng tệ, mục đích chiến lược bị bại lộ.
Đến lúc đó các bang quốc Nam Đức sẽ cảnh giác, cộng thêm sự can thiệp của các cường quốc, chiến lược tiến về phía tây gần như vô hiệu.
Để khiến đàm phán đi vào bế tắc, sau khi đưa ra yêu sách về hai công quốc ven sông Danube, Mesterser lại đưa ra yêu sách về lãnh thổ lớn hơn đối với Đế quốc Ottoman, đòi một hơi hơn nửa bán đảo Balkans.
Ngay cả khi Anh và Pháp hết sức hòa giải mâu thuẫn giữa hai bên, kết quả cũng sẽ là thất bại. Dĩ nhiên, để làm tròn vai, Mesterser cũng bắt đầu nhượng bộ một cách chậm chạp.
...
Trong khi các cuộc đàm phán diễn ra ở Constantinople, thì Paris cũng náo nhiệt không kém. Cuộc đấu tranh giữa phe quốc hội và phe tổng thống đã lên đến đỉnh điểm, không còn cách nào hòa giải.
Sau một thời gian dài chuẩn bị, Louis Napoléon Bonaparte cuối cùng cũng sẵn sàng.
Với sự ủng hộ của người Anh, ngày 2 tháng 12 năm 1851, Louis Napoléon Bonaparte phát động đảo chính quân sự ở Paris, cưỡng ép giải tán quốc hội.
Không cam chịu thất bại, phe quốc hội cũng tổ chức quân đội phản công, nhưng vì bị phản đồ bán đứng nên đã thất bại, Louis Napoléon Bonaparte nắm giữ quyền lực tối cao.
Franz không hề ngạc nhiên khi tin tức về cuộc đảo chính lan đến Vienna, mặc dù thời gian đảo chính sớm hơn nửa năm so với dự kiến.
Hiệu ứng cánh bướm ngày càng lớn, ngay cả nước Pháp cũng bị liên lụy, thế giới tương lai đang đi về đâu đã trở nên hoàn toàn khác. Cảm giác tiên tri đang dần biến mất.
Franz đã có sự chuẩn bị, việc ông thay đổi số phận của nhiều người và ảnh hưởng đến cục diện thế giới là điểu tất yếu.
Sau cuộc đảo chính ở Paris, chẳng bao lâu nữa Louis Napoléon Bonaparte sẽ phục hồi, và liên minh Anh-Pháp sẽ xuất hiện trên vũ đài lịch sử.
Franz không ra tay ngăn cản. So sánh mà nói, Napoléon III, vị quân chủ thích phô trương này, không phải là đối thủ quá khó nhằn.
Nền tảng của Pháp vững chắc, việc xuất hiện một vị quân chủ thích gây rối không đáng sợ bằng việc xuất hiện một vị quân chủ thích làm kinh tế, đó mới thực sự là tai họa đối với Áo.
Cứ để đế chế cho vay nặng lãi tiếp tục cho vay nặng lãi, còn việc phát triển công nghiệp, Áo sẽ làm thay.
Sau cuộc đảo chính ở Paris, áp lực của người Anh giảm đi đáng kể. Với Pháp làm "bia đỡ đạn”, họ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong ngoại giao ở châu Âu.
Abdul Mecid I là người cảm nhận rõ nhất điều này. Sự ủng hộ từ Pháp tăng lên, Napoléon III, người sắp phục hồi, đã cử huấn luyện viên quân sự đến giúp huấn luyện quân đội Đế quốc Ottoman.
Tuy nhiên, sự ủng hộ này hoàn toàn không đủ để thay đổi cục diện bất lợi hiện tại. Theo thời gian, thái độ của đại diện Nga, Công tước Alexander Menshikov, ngày càng trở nên cứng rắn.
Đúng hơn là người Nga đang đưa ra điều kiện, buộc chính phủ Ottoman phải lựa chọn: Chấp nhận, hoặc là chiến tranh.
Người Nga dường như đã chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh. Ngày 23 tháng 7 năm 1851, cuộc đàm phán Anh-Nga ở St. Petersburg kết thúc thất bại vì sự khác biệt quá lớn về lằn ranh đỏ của hai bên, một vòng đếm ngược mới cho cuộc chiến tranh Nga-Thổ đã bắt đầu.
