St. Petersburg
Ngoại trưởng Nga, Karl Vosel, cau mày nói: "Bệ hạ, công sứ tại Paris báo tin, Louis Napoléon Bonaparte đã phục vị vào ngày 1 tháng 1 năm 1852 và tự xưng là Napoléon III."
Nghe tin Napoléon III phục vị, Nicholas I nổi giận. Ông cho rằng cái dòng họ Bonaparte trọc phú này không đủ tư cách để có một người làm hoàng đế Pháp.
Đây không chỉ là quan điểm cá nhân, mà còn liên quan đến lợi ích thiết thực. Việc Napoléon lên ngôi nhờ dân bầu đã phá vỡ truyền thống "quân quyền thần thụ", làm lung lay nền tảng của chế độ quân chủ trên toàn châu Âu. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh chống Pháp trước đây.
Khó khăn lắm mới trấn áp được những luận điệu sai trái này, giờ lại để Napoléon III phục vị, chẳng phải là sỉ nhục tất cả những người tham gia Hội nghị Vienna, và đặc biệt là Alexander I hay sao?
Điều khiến ông tức giận hơn cả là Napoléon III còn dám thách thức uy nghiêm của Đế quốc Nga. Sau khi cuộc khủng hoảng ở Thánh địa bùng nổ, chính phủ Pháp đã can thiệp, làm suy yếu quyền kiểm soát của người Nga đối với Giáo hội Chính thống Đông phương.
Thù cũ hận mới chồng chất, Nicholas I dĩ nhiên không thể thừa nhận tính hợp pháp của Napoléon III. Nếu không phải khoảng cách giữa hai bên quá xa, ông đã dùng hành động thực tế cho người Pháp biết sự lợi hại của Đế quốc Nga.
Nicholas I khinh thường nói: "Quả nhiên là một tên vô lại, chỉ biết giở những thủ đoạn nhỏ nhặt."
"Ra lệnh cho công sứ tại Pháp gửi một công hàm ngoại giao cho chính phủ Pháp, lên án hành vi soán ngôi vô sỉ của Louis Napoléon Bonaparte và yêu cầu hắn lập tức thoái vị."
Việc Napoléon III phục vị được giữ bí mật tuyệt đối để tránh bị các thế lực quốc tế can thiệp.
Trong mắt Nicholas I, đó chỉ là trò hề, không có một chút uy nghiêm của quân chủ nào, không xứng trở thành thành viên của giới quân chủ.
Karl Vosel khuyên can: "Bệ hạ, phản ứng cứng rắn như vậy liệu có ổn không? Nó sẽ khiến quan hệ hai nước tiếp tục xấu đi."
Không thừa nhận đã đành, còn đặc biệt gửi công hàm ngoại giao để chửi rủa Napoléon III, điều này không nghi ngờ gì là đổ thêm dầu vào lửa cho quan hệ Pháp - Nga.
Do khoảng cách địa lý, Nga không có nhiều ảnh hưởng đến Pháp. Lời chỉ trích ngoại giao này chỉ có tác dụng làm Napoléon III bẽ mặt mà thôi.
Dù chính phủ Sa hoàng có gầm thét đến đâu, Napoléon III cũng không thể thoái vị. Đến nước này, dù phía trước là gì, hắn cũng phải tiếp tục tiến lên.
Nicholas I khinh miệt nói: "Sợ gì chứ? Đắc tội thì đã đắc tội rồi. Dù sao quan hệ Nga - Pháp cũng đã như vậy, còn có thể tệ hơn được nữa sao?"
Cùi không sợ lở, đó là thái độ của Nicholas I. Không phải ông bốc đồng, mà là trong vấn đề Ottoman, mâu thuẫn Pháp - Nga đã lên đến đỉnh điểm, hai bên đều không chịu nhượng bộ, khả năng hòa giải gần như bằng không.
Đối mặt với Nicholas I đã quyết tâm, ngoại trưởng Karl Vosel dĩ nhiên không dám cãi lời. Mạng sống của người Pháp thì liên quan gì đến ông?
"Vâng, bệ hạ." Karl Vosel đáp.
Rồi ông chuyển sang chuyện khác: "Bệ hạ, cuộc đàm phán ở Constantinople đã đi đến bế tắc. Với sự ủng hộ của Anh và Pháp, Đế quốc Ottoman lần này sẽ không nhượng bộ. Chúng ta có thể khởi động kế hoạch tiếp theo."
Nói cách khác, chiến tranh sắp đến, và bây giờ cần một cái cớ hợp lý. Bị ảnh hưởng bởi văn hóa châu Âu, chính phủ Sa hoàng không còn manh động như trước, mà biết tầm quan trọng của việc "làm kỹ nữ lập đền thờ".
Nicholas I gật đầu, rồi nói: "Ra lệnh cho Công tước Menshikov gửi tối hậu thư cho Đế quốc Ottoman. Nếu họ vẫn từ chối thiện ý của chúng ta, Bộ Ngoại giao hãy tìm một cái cớ đi!"
Thiện ý? Ai tin vào "thiện ý" của chính phủ Sa hoàng? Tham vọng của họ quá lớn, chính phủ Sultan dù yếu đuối đến đâu cũng phải gồng mình chống đỡ.
Thỏa hiệp là tự sát từ từ, còn chống đỡ thì vẫn còn chút hy vọng sống. Với sự hỗ trợ của Anh và Pháp, Đế quốc Ottoman không phải là hoàn toàn không có cơ hội thắng.
"Vâng, bệ hạ!" Karl Vosel đáp.
Cớ thì có cả ngàn vạn, cuối cùng cũng sẽ tìm được. Bản thân Đế quốc Ottoman đã mục ruỗng, đầy rẫy những chuyện tởm lợm. Muốn tìm cớ gây sự với họ thật dễ dàng.
Constantinople là giấc mơ của nhiều thế hệ chính phủ Sa hoàng. Nó không chỉ có giá trị quân sự và kinh tế đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa chính trị và tôn giáo to lớn.
Tóm lại, chỉ cần chính phủ Sa hoàng có thể cướp được Constantinople, dù tổn thất nặng nề đến đâu cũng có thể chấp nhận được.
Nhìn từ góc độ này, Nicholas II trong lịch sử quá ngu ngốc khi đi đánh nhau sống chết với người Đức và Đế quốc Áo-Hung.
Nếu ông ta chiếm Constantinople trước, dựa vào uy tín chính trị và tôn giáo, hoàn toàn có thể giải quyết mọi mâu thuẫn trong nước.
Từ góc độ này, chiến lược của Nicholas I hoàn toàn đúng đắn. Chiếm lại Constantinople, dựa vào uy vọng lớn mạnh, việc tiến hành cải cách trong nước sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Trên thực tế, mâu thuẫn nội bộ nước Nga từ lâu đã được chính phủ Sa hoàng chú ý, chỉ là thế lực phản đối quá lớn, Nicholas I không dám mạo hiểm hành động.
Bao gồm cả Nicholas I, nhiều quan chức cấp cao của Nga phản đối chế độ nông nô, nhưng họ sợ thế lực của giới quý tộc.
Bây giờ, chính phủ Sa hoàng đặt hy vọng vào cuộc chiến tranh Nga - Thổ này. Chỉ cần chiếm được Constantinople, mọi chuyện sẽ dễ nói. Nếu thất bại, chỉ còn cách mạo hiểm tiến hành cải cách nội bộ.
...
Paris
Sau khi Napoléon III phục vị thành công, đất nước vẫn chưa ổn định ngay lập tức. Các thế lực phản đối vẫn rất mạnh. Ngày 12 tháng 1, một cuộc khởi nghĩa phản đế đã nổ ra ở Paris.
Nửa tháng sau, cuộc khởi nghĩa lan sang hơn hai mươi tỉnh như Toulouse, Marseille, Limoges, Perpignan, Ballena, Toulon, Bordeaux...
Lúc này, tác dụng của việc mua chuộc đã thể hiện rõ. Napoléon III phản ứng mạnh mẽ hơn so với chính phủ Tháng Bảy trước đây, lập tức ra lệnh trấn áp cuộc nổi loạn.
32 tỉnh trên cả nước được đặt trong tình trạng thiết quân luật. Trong vòng một tháng ngắn ngủi, hơn 26.000 người bị bắt, hơn 10.000 người bị lưu đày. Khủng bố trắng bao trùm nước Pháp.
Do thiếu tổ chức hiệu quả, những người khởi nghĩa phân tán khắp cả nước và nhanh chóng bị trấn áp.
Sau khi củng cố được ngai vàng, rắc rối của Napoléon III cũng đến. Đầu tiên là khủng hoảng tài chính. Trong quá trình phục vị, để mua chuộc lòng dân, Napoléon III đã tăng lương và đãi ngộ cho mọi người.
Ví dụ: Lương hàng năm của một thượng nghị sĩ là 30.000 Franc, của một tham sự quốc vụ là 25.000 Franc. Lương hàng năm của các bộ trưởng bắt đầu từ 40.000 Franc, và nếu kiêm nhiệm thì sẽ được trả nhiều hơn.
Bản thân Napoléon cũng nhận 26 triệu Franc lương hàng năm. So với thu nhập tài chính hàng năm của nước Pháp là mười hai, mười ba trăm triệu Franc, lương của hoàng đế chỉ chiếm 2,1%, có vẻ không quá cao.
Tuy nhiên, không thể tính toán như vậy. Khi đãi ngộ của tầng lớp thượng lưu tăng lên, liệu lương của công chức cấp dưới có thể không tăng sao?
Không nghỉ ngờ gì nữa, Napoléon III là một nhà lãnh đạo tốt, quan tâm đến mức sống của mọi người. Vì vậy, các công chức Pháp rất hạnh phúc, "thời đại lương cao" đã đến.
Tăng lương cho quan chức chính phủ, Napoléon III cũng không quên quân đội, những người đã cùng ông trên một chiến tuyến. Thăng chức, tăng lương.
Ngay cả Giáo hội Công giáo, lực lượng đã ủng hộ ông, cũng nhận được 42,8 triệu Franc vào năm 1852. So với Franz, vị hoàng đế vừa lên ngôi đã khai đao với giáo hội, Napoléon III rõ ràng là một đứa trẻ ngoan.
Trong không khí hân hoan này, Napoléon III còn cân nhắc đến lợi ích của dân thường, bãi bỏ một loạt thuế má nặng nề.
Kết quả là mọi người đều vui vẻ, đồng loạt hô vang "Hoàng đế vạn tuế". Vấn đề duy nhất là tài chính.
Với chỉ tiêu tăng và thu nhập giảm, tài chính của chính phủ Pháp không còn xa bờ vực phá sản.
Mua chuộc lòng người là thế mạnh của Napoléon III, nhưng trong việc cai trị đất nước, ông vẫn còn là một tân binh, mới chỉ bắt đầu.
Để củng cố sự cai trị, Napoléon III còn mở rộng đội ngũ công chức. Số lượng quan chức hành chính của Pháp tăng từ 470.000 lên 620.000.
Đáng chú ý, để đối phó với cuộc khủng hoảng Cận Đông, Napoléon III còn chuẩn bị tiếp tục mở rộng lục quân, nhưng do khó khăn tài chính, kế hoạch này buộc phải hoãn lại.
Nhìn vào báo cáo tài chính trên bờ vực phá sản, Napoléon III nhức đầu hỏi: "Rouher, ngươi có biện pháp gì để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính?"
Rouher cười khổ đáp: "Bệ hạ, hãy đàm phán với các tập đoàn tài chính. Chúng ta cần sự hỗ trợ của họ để vượt qua khó khăn này."
Không biết ai đã gán cho ông cái danh "Phó hoàng đế", từ đó về sau, Rouher bắt đầu thu liễm trước mặt Napoléon III.
May mắn thay, đây là châu Âu, nếu đổi sang thế giới phương Đông, có lẽ ông đã chết không toàn thây.
Dù vẫn giữ chức vụ cao, nhưng Rouher biết rằng Napoléon III làm hoàng đế khác với Louis Napoléon Bonaparte trước khi lên ngôi.
Là nhân vật số hai trong chính quyền, ông cần phải cẩn trọng trong lời nói và hành động. Quá cẩn thận thì không được, sẽ ảnh hưởng đến tình cảm quân thần; quá kiêu ngạo cũng không xong, sẽ khiến Napoléon III khó chịu.
Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tập đoàn tài chính là một đề nghị đúng đắn. Không có gì sáng tạo, nhưng lại rất hiệu quả.
Chính phủ Pháp nghèo, nhưng các tập đoàn tài chính Pháp lại rất giàu. Trải qua nhiều năm tích lũy tư bản, danh hiệu "đế quốc cho vay nặng lãi" đã xuất hiện.
Tuy nhiên, đây không phải là một kế hoạch dài hạn. Để có được sự hỗ trợ của các tập đoàn tài chính, cần phải trả một cái giá rất lớn. Nếu không có đủ lợi ích, khó có thể khiến họ móc hầu bao.
