Logo
Chương 228: Tính toán trước

Đế quốc La Mã Thần thánh tái lập, một loạt vấn đề nảy sinh: từ cải tổ cơ cấu chính phủ hành chính, đến phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa chính phủ các bang quốc và chính phủ trung ương, tất cả đều cần Franz đích thân tham gia giải quyết.

Thực chất của việc cải tổ cơ cấu chính phủ hành chính là chuyển đổi chính phủ trung ương Áo thành chính phủ trung ương mới của Đế quốc La Mã Thần thánh, với quyền trực thuộc đối với đế quốc Áo và vương quốc Bavaria.

Cân nhắc đến vấn đề ổn định nội bộ, Franz vẫn vô cùng thận trọng trong việc phân chia quyền lực. Ngoại trừ nắm giữ quyền chỉ huy quân đội và quyền ngoại giao, ông không can thiệp vào các quyền khác.

Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là chính phủ trung ương hoàn toàn không thể can thiệp vào công việc địa phương. Chỉ là, trong tình huống bình thường, chính phủ trung ương sẽ không can thiệp vào nội chính của các bang quốc.

Tuy nhiên, nếu bang quốc xảy ra vấn đề, ví dụ như nổi loạn hoặc chính biến, chính phủ trung ương đương nhiên có quyền can thiệp.

Ngoài những vấn đề này, khó khăn nhất vẫn là việc phân chia nguồn thu tài chính. Chính phủ địa phương chắc chắn phải nộp một phần thu nhập tài chính cho chính phủ trung ương, và tỷ lệ cụ thể trở thành tiêu điểm tranh chấp.

Chính phủ các bang quốc hy vọng chỉ phải nộp một phần nhỏ để trung ương chi tiêu, còn lại sẽ được tự do phân phối. Ngược lại, chính phủ trung ương muốn có tỷ lệ lớn hơn, sau đó căn cứ vào nhu cầu thực tế để chuyển giao lại cho địa phương.

Đằng sau cuộc tranh giành tài chính là cuộc tranh giành quyền lực, khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn, khó giải quyết trong thời gian ngắn.

Tình hình cụ thể vẫn phải chờ hiến pháp được ban hành mới có thể rõ ràng. Franz chủ trương dùng pháp luật để trị quốc, và ông sẽ không hành động tùy tiện khi chưa có căn cứ pháp lý.

Ngay cả khi chính phủ trung ương và chính phủ các bang quốc tranh giành quyền lực, mọi thứ cũng phải hợp pháp. Franz tuyệt đối không cho phép xảy ra việc phá vỡ quy tắc.

Cung điện Schönbrunn

Thủ tướng Felix báo cáo: "Bệ hạ, quân dự bị đã hoàn thành việc giải ngũ, thể chế kinh tế thời chiến đã được bãi bỏ, và nền kinh tế trong nước đang dần khôi phục hoạt động bình thường.

Nói tóm lại, chiến lược tiến về phía tây lần này đã kết thúc thành công. Tuy nhiên, những vấn đề nảy sinh cũng không ít, may mắn là không có đại chiến nổ ra, nếu không rắc rối của chúng ta sẽ lớn hơn nhiều.

Vấn đề chủ yếu nằm ở kinh nghiệm tổ chức còn thiếu, và khả năng phối hợp giữa các bộ phận còn yếu.

Tính đến khi bế mạc hội nghị Paris, chúng ta đã huy động tổng cộng 124 vạn 70 nghìn quân dự bị, cộng thêm 54 vạn 20 nghìn quân tại ngũ, tổng cộng là 178 vạn 90 nghìn người.

Việc động viên với quy mô này đã gây ra những khó khăn về hậu cần lớn hơn nhiều so với dự đoán của các bộ phận. Cũng may là chiến tranh không xảy ra, nếu không với số lượng lớn quân đội như vậy, chúng ta chỉ có thể duy trì tác chiến trong khoảng ba, bốn tháng.

Đây là báo cáo thống kê cuối cùng, mời ngài xem qua."

Thủ tướng Felix lộ rõ vẻ vẫn còn kinh hãi. Rõ ràng lần phô trương thanh thế này của đế quốc Áo không hề hào nhoáng như vẻ bề ngoài.

Với số lượng lớn quân đội như vậy, tính trung bình 15 nghìn viên đạn mỗi tấn, thì chỉ cần mỗi người bắn một viên thôi, chúng ta cũng cần đến 119 tấn đạn dược.

Chưa kể đến việc đánh trận, chỉ tính riêng việc huấn luyện hàng ngày trong mấy tháng này, trung bình mỗi tháng cũng phải tiêu hao hàng nghìn tấn đạn dược, và đó còn chưa tính đến pháo binh.

Trên thực tế, khi Áo động viên nhiều quân như vậy, pháo binh bị thiếu hụt nghiêm trọng. Bộ binh dự bị có thể dễ dàng thành lập, nhưng pháo binh là một binh chủng kỹ thuật, không thể đễ dàng dự trữ như vậy.

Không phải cứ biết bắn pháo là có thể coi là pháo binh. Bắn không trúng mục tiêu chẳng khác nào lãng phí. Một pháo binh đạt chuẩn, ngoài kiến thức nhất định, còn phải được rèn luyện bằng đạn dược.

Franz gật đầu, thầm nghĩ: "Bây giờ tiêu hao vẫn còn nhỏ. Nếu trải qua thêm vài năm, vũ khí được đổi mới, lượng tiêu hao vũ khí và đạn dược tăng lên gấp nhiều lần mới là vấn đề lớn."

Nhận lấy báo cáo, Franz lướt qua một lượt và hiểu lý do khiến thủ tướng Felix cảm khái. Chi phí thực sự quá lớn.

Một cuộc diễu binh thị uy đã tiêu tốn đến 1,37 tỷ quan, và nếu tính cả việc động viên quân dự bị trong nước và các chi phí vật liệu khác, tổng chi lên đến 2,11 tỷ quan.

Khi nhìn thấy con số này, Franz đột nhiên hiểu tại sao sau chiến tranh Crimea, các nước châu Âu đều cố gắng tránh chiến tranh.

Đây là còn chưa đánh nhau, nếu thực sự giao chiến, chi phí quân sự cuối cùng sẽ còn tăng lên đến mức nào nữa?

Dĩ nhiên, con số 2,11 tỷ quan không hoàn toàn là chi tiêu bằng tiền mặt, phần lớn vẫn là chi tiêu bằng vật liệu, chỉ là vì tiện tính toán nên đã được quy đổi ra tiền.

Franz quan tâm hỏi: "Nội các chuẩn bị phân đất phong hầu cho một nhóm công thần ở bán đảo Balkans, đã cân nhắc đến tình hình thực tế chưa?"

Không có chiến tranh không có nghĩa là không có công thần. Với quy mô điều động quân sự lớn như vậy, chắc chắn sẽ có người lập công, chỉ là không có nhiều công thần như khi chiến tranh trực tiếp nổ ra.

Có công thì phải thưởng. Franz sẽ không phong tước cho các đại quý tộc, nhưng ông sẽ không keo kiệt với những ky sĩ, những chủ trang trại nhỏ, vì đó là mục tiêu phấn đấu của nhiều người lính.

Thủ tướng Felix trả lời: "Bệ hạ, trong chiến lược tiến về phía tây lần này, chiến tranh đã không xảy ra, vì vậy quân công của mọi người cũng rất hạn chế.

Việc đạt được tước vị và đất đai trong nước là gần như không thể. Nội các đề nghị đặt đất phong ở bán đảo Balkans, với những điều kiện rộng rãi hơn.

Đồng thời, chúng ta cũng chuẩn bị khuyến khích các quý tộc trong nước đổi lấy đất phong và tiến về bán đảo Balkans để tăng cường sự kiểm soát đối với địa phương."

Có quý tộc nào sẵn sàng đổi không? Câu trả lời là không!

Không ai ngốc nghếch đến mức từ bỏ đất phong đã được khai thác tốt để đến một nơi khác và bắt đầu lại từ đầu.

Nhưng có một loại người sẵn sàng đi, đó là những người có quân công nhưng vẫn chưa thể vượt qua ngưỡng cửa quý tộc.

Trong thời đại này, việc trở thành quý tộc thực sự rất khó khăn. Ví dụ, trong cuộc chiến này, số quan binh có thể vượt qua ngưỡng cửa quý tộc sẽ không quá hai chữ số, và trong một sư đoàn cũng chưa chắc đã có một người.

Kể từ sau cuộc cải cách quân sự của Franz, những người bị mắc kẹt như vậy không phải là ít. Ngay cả khi có người dựa vào chiến công để bước vào ngưỡng cửa tướng quân, họ vẫn chưa nhận được tước vị quý tộc.

Tước vị đồng nghĩa với địa vị xã hội. Bán đảo Balkans lại tiếp giáp Áo. Vô luận là hai công quốc thuộc lưu vực sông Danube, hay là Serbia, đều là những vùng đồng bằng màu mỡ, chỉ thiếu sự khai thác hiệu quả.

Những người tỉnh mắt và có tham vọng sẽ không bỏ lỡ cơ hội này. Một khi những người này đến đó, nền tảng thống trị của Áo sẽ được thiết lập.

Vì lợi ích của mình, những người này sẽ tự nguyện bảo vệ sự thống trị của Áo và trấn áp tàn dư Ottoman.

Về việc Áo có thể giành được chủ quyền đối với những vùng đất này hay không, vấn đề này có thể bỏ qua. Ngay cả khi không giành được chủ quyền, điều đó cũng sẽ không ảnh hưởng đến địa vị thực tế của mọi người, và đế quốc Ottoman không có khả năng thu phục những vùng đất đã mất.

Muốn địa phương độc lập, nâng đỡ chính quyền bù nhìn, cũng phải có người để nâng đỡ chứ? Quân đội Áo ở đó không phải là không làm gì. Việc đầu tiên họ làm là đánh đổ giai cấp thống trị cũ.

Bắt giữ quý tộc Ottoman, bắt giữ quan chức Ottoman, bắt giữ thương nhân Ottoman, và bắt giữ những người ủng hộ đế quốc Ottoman...

Tóm lại, bất cứ ai có liên hệ với đế quốc Ottoman, hoặc có thể đe dọa sự thống trị của Áo, đều bị bắt giam.

Nói cách khác, tầng lớp thượng lưu của xã hội bản địa đã bị quét sạch. Những người còn lại chỉ là nông nô và dân thường, và những người có thể viết tên mình cũng được coi là trí thức.

Để cổ động họ đòi độc lập, trước tiên phải cho họ biết từ "độc lập" có nghĩa là gì. Đây không phải là điều có thể giải quyết trong thời gian ngắn.

Franz có thể khẳng định rằng nếu Áo kết thúc quân quản đối với địa phương ngay bây giờ, trật tự xã hội sẽ sụp đổ ngay lập tức.

Khi người giải phóng đến và thể chế cũ bị lật đổ, một thể chế mới cần được thiết lập. Dùng người của mình để thành lập dù sao cũng có độ trung thành cao hơn nhiều so với dùng người ngoài.

Eranz suy nghĩ một chút rồi nói: "Vậy thì cứ làm như vậy đi, nhanh chóng thiết lập cơ sở thống trị tại chỗ.

Nếu chiến tranh Cận Đông kết thúc với việc Anh và Pháp thất bại thì không sao, nhưng nếu họ thắng, hoặc thậm chí là hòa, thì rắc rối của chúng ta sẽ đến.

Họ sẽ không để yên cho chúng ta nuốt một miếng lợi nhuận lớn như vậy. Và nếu Nga không giành được Constantinople, họ cũng sẽ đỏ mắt vì lợi nhuận của chúng ta.

Trước lợi ích, quan hệ đồng minh không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Có lẽ chỉ cần Anh cổ động một chút, chính phủ Sa hoàng sẽ làm điều ngu ngốc."

Đây không phải là Franz bụng ta suy bụng người, mà là vì danh tiếng xấu của gấu Nga không phải là vô căn cứ, mà được xây dựng bằng vô số sự thật. Không thể không cảnh giác.

Anh hố đồng đội, Pháp hố đồng đội, nhưng họ vẫn còn chút sĩ diện, sẽ không làm quá đáng, ít nhất là vẫn còn giữ thể, diện. Nhưng gấu Nga hố đồng đội thì đúng là kinh thiên động địa.

"Vâng, thưa bệ hạ!" Thủ tướng Felix đáp.

...

Bán đảo Balkans

Kể từ sau khi hội nghị Paris bế mạc, Anh đã có đủ sức lực để dạy cho Hy Lạp, một đàn em không nghe lời, một bài học.

Cho rằng không treo cờ chính phủ, mà sử dụng cờ hiệu của các nhóm vũ trang dân sự là có thể tránh được trừng phại? Nằm mơ đi! Xem lại xem đang lừa ai vậy? Muốn giở trò, có biết ai mới là tổ tông trong lĩnh vực này không?

Nếu Hy Lạp chơi mánh khóe, Anh sẽ quyết định nói chuyện đạo lý với họ. Dĩ nhiên, lần này họ sẽ giảng đạo lý bằng nắm đấm.

Đến tháng 10, quân tiếp viện của Anh đã đến vị trí. Ba sư đoàn bộ binh cộng với tàn binh bại tướng trên bán đảo Balkans được chỉnh biên thành một sư đoàn, tổng cộng là 51 nghìn quân Anh.

Cộng thêm 16 nghìn quân Sardinia và 12 nghìn quân Ottoman, hợp thành liên quân ba nước, và đi tìm Hy Lạp để tính sổ.

Kết quả đương nhiên là không cần phải nói. Ngay cả quân Ottoman cũng không đánh lại "lực lượng vũ trang dân gian" của Hy Lạp, thì liên quân này vừa đụng đã tan.

Vương quốc Hy Lạp quá nghèo, lại dại dột đầu tư vào hải quân, nên trang bị vũ khí cho lục quân không có tiền để thay đổi. Sau khi mở rộng đội ngũ một cách mù quáng, họ thậm chí không thể trang bị cho mỗi người một khẩu súng.

Ban đầu, người Ottoman không phòng bị, quân đội lại đang tác chiến ở tiền tuyến, nên Hy Lạp đã thừa thắng xông lên. Nhưng khi đế quốc Ottoman phản ứng lại và rút một phần binh lực từ tiền tuyến về, đà tiến công của họ đã bị chặn lại.

Bây giờ Anh bắt họ khai đao, không chỉ muốn dạy cho tên khốn này một bài học, mà quan trọng hơn là đây là một quả hồng mềm.

John Bull cũng cần sĩ diện. Đánh lâu như vậy, họ cũng biết gấu Nga không dễ chọc. Muốn đánh một trận chiến đẹp mắt là quá khó. Xương cứng cứ để Pháp gặm đi. Quy mô lục quân của Anh có hạn, không thể dồn hết tài sản vào đó được.

Để vãn hồi những thiệt hại về danh tiếng do chiến dịch Sofia gây ra, Bộ trưởng Bộ Lục quân Anh đã ra lệnh cho Thiếu tướng Oliver chuộc tội bằng cách lập công, và ông ta sẽ tìm lại thể diện trên người Hy Lạp.

Anh đã quyết tâm, và Hy Lạp đương nhiên không thể chống lại. Đầu tiên là bị đuổi khỏi Thrace, và bây giờ đã rút lui về Veria. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ phải rút về trong nước.

Otto I nóng nảy. Dù thế nào đi nữa, những lực lượng này không thể rút về trong nước. Đây không chỉ là một thất bại trong chiến tranh, mà quan trọng hơn là "vị thế trung lập" của họ sẽ khó giữ được, và ngọn lửa chiến tranh sẽ lan sang bán đảo Hy Lạp.

Trong ván cờ lớn này, vương quốc Hy Lạp chỉ là một quân cờ bình thường, và bây giờ sắp trở thành tốt thí.

Otto I lo lắng hỏi: "Sao rồi, tướng Menshikov có chịu xuất binh không?"

Gấu Nga rất thù dai. Trong trận chiến Bulgaria lần thứ hai, vào thời khắc quan trọng, Hy Lạp chỉ lo chiếm đất, không tấn công Constantinople theo yêu cầu của họ, nếu không chiến tranh Cận Đông đã kết thúc từ lâu.

Bất kể Hy Lạp có bao nhiêu lý do, trong mắt Nga, đó là sự phản bội. Không trả thù thì không xong.

Hơn nữa, bây giờ Nga cũng rất bận, vừa muốn tấn công Constantinople, vừa phải quyết chiến với Anh và Pháp trên bán đảo Crimea. Liệu họ có sức lực để cứu Hy Lạp hay không là một vấn đề.

Bộ trưởng Ngoại giao trả lời: "Bệ hạ, Nga đã đưa ra điều kiện. Trừ khi chúng ta tuyên bố rõ ràng gia nhập liên minh và tuyên chiến với Anh và Pháp, nếu không họ sẽ không xuất binh cứu viện."

Muốn cầu cứu đồng minh, thì trước hết phải là đồng minh đã. Vương quốc Hy Lạp chỉ có thỏa thuận với Áo và Nga. Những lời hứa suông này, bản thân họ còn chưa hoàn toàn thực hiện, thì sao có thể mong đợi Nga coi trọng?

Otto I sầm mặt lại, phẫn nộ nói: "Chẳng lẽ ngươi không nói với Nga về những khó khăn của chúng ta sao? Vị trí địa lý của Hy Lạp quyết định rằng chúng ta không thể đối đầu với Anh và Pháp, nếu không chúng ta sẽ phải đối mặt với thảm họa ngay lập tức."

Khi nói điều này, Otto I vẫn còn có chút thiếu tự tìn. Phong thủy luân chuyển. Ban đầu, Hy Lạp lo sợ đắc tội Anh và Pháp, vừa muốn chiếm đất, không đặt đại cục lên hàng đầu. Bây giờ họ cần người khác đặt đại cục lên hàng đầu.

"Bệ hạ, thái độ của Nga rất rõ ràng. Họ cho rằng nếu chúng ta tham chiến, chúng ta đã đứng về phía đối lập với Anh và Pháp.

Tướng Menshikov nói rằng nếu chúng ta vẫn coi họ là đồng minh, chúng ta nên trực tiếp gia nhập liên minh." Bộ trưởng Ngoại giao giải thích.

Đây là sự thật. Hy Lạp tấn công đế quốc Ottoman không chỉ kiềm chế quân đội Ottoman mà còn cắt đứt nguồn cung cấp vật liệu tại chỗ của họ.

Những lỗ hổng này cần Anh và Pháp phải lấp đầy. Mặc dù Hy Lạp không tuyên chiến với Anh và Pháp, nhưng trên thực tế, họ đã gây ra thiệt hại cho họ.

Nếu không, Anh đã không đích thân đến đánh họ. Việc không tấn công trực tiếp vào lãnh thổ Hy Lạp không phải là vì Anh không dám, mà là vì nhu cầu chính trị.

Việc tấn công một quốc gia có chủ quyền một cách đột ngột sẽ dễ dàng gặp phải sự chỉ trích của dư luận. Anh cũng cần sĩ diện. Ngược lại, Hy Lạp quá yếu, quân đội Anh cần sử dụng họ để gặt hái chiến tích, không đáng để họ xé bỏ lớp ngụy trang.

Otto I rơi vào thế khó. Nếu gia nhập liên minh, lãnh thổ Hy Lạp sẽ sớm phải hứng chịu các cuộc tấn công từ hải quân Anh và Pháp. Không biết bao nhiêu bến cảng và thành phố sẽ bị phá hủy trong chốc lát.

Nhưng nếu từ chối gia nhập liên minh, Nga sẽ không xuất binh cứu họ.

Theo tình hình hiện tại, trong một thời gian ngắn nữa thôi, quân đội Hy Lạp ở tiền tuyến sẽ chỉ còn đường rút lui về nước, và kẻ thù có thể bám theo mà tràn vào.

Đến lúc đó, Hy Lạp vẫn sẽ bị đẩy vào chiến tranh. Chẳng lẽ ông có thể bỏ rơi quân đội ở tiền tuyến và không cho họ trở về nước sao?

Nếu điều đó thực sự xảy ra, có lẽ người dân sẽ lật đổ ông ngay lập tức.

Otto I do dự hỏi: "Nếu chúng ta lấy danh nghĩa một nước trung lập, giải trừ vũ khí của quân đội rút về nước, liệu Anh có thể dừng bước không?"