Logo
Chương 281: Quốc tế phản ứng

Kể từ sau khi Chiến tranh Cận Đông bùng nổ, Đế quốc Ottoman đã dời đô về Ankara. So với Constantinople, Ankara thực sự chỉ là một thành phố nhỏ bé, hẻo lánh.

Nằm sâu trong vùng núi, giao thông trì trệ, dân số chỉ vỏn vẹn vài chục ngàn người, thậm chí còn chưa bằng một nửa số lượng nhân viên hành chính của chính phủ Ottoman. Ưu điểm duy nhất của nơi này là dễ thủ khó công.

Với nguyên tắc an toàn là trên hết, chính phủ Sultan đã quyết định chọn nơi này. Giao thông có thể cải thiện bằng đường sắt, và Anh, Pháp rất sẵn lòng giúp đỡ.

Mặc dù đã trải qua hiện đại hóa, bản chất lạc hậu của Đế quốc Ottoman vẫn không thay đổi. Sau thất bại trong Chiến tranh Cận Đông, các quý tộc bị thiệt hại từ cuộc cải cách của Abdul Mecid I đã phản pháo.

Họ công kích những cải cách của Abdul Mecid I, chủ trương khôi phục chế độ phong kiến tôn giáo truyền thống, với lý do cải cách đã khiến Đế quốc Ottoman trở nên yếu ớt.

Những điều này chỉ là cái cớ bề ngoài. Nguyên nhân sâu xa hơn là do giới quý tộc và quan lại Ottoman ở bán đảo Balkan đã mất tất cả, và giờ muốn đến bán đảo Anatolia để chia chác quyền lợi.

Tranh giành quyền lợi, không ai chịu nhường ai, hai bên đương nhiên không thể thỏa hiệp. Sau khi Hệ thống Vienna vừa mới được tái lập, xác định được sự an toàn của mình, hai phe liền bắt đầu hành động.

Cho đến nay, phe cải cách do Abdul Mecid I dẫn đầu vẫn chiếm ưu thế, dĩ nhiên, ưu thế này có được là nhờ tác động từ bên ngoài.

Như người ta thường nói, "nợ tiền là đại gia", chính phủ Sultan nợ Anh, Pháp chồng chất. Nếu để họ sụp đổ, khả năng thu hồi nợ là rất khó nói.

Đây cũng là lý do chính phủ Vienna để mắt tới người Ottoman, lạc hậu thì phải chịu đánh. Đế quốc Ottoman hiện đang suy yếu và trở thành mục tiêu.

Ankara

Ngoại trưởng Fuad trầm giọng nói: "Bệ hạ, chính phủ Vienna đã gửi công hàm ngoại giao chính thức, yêu cầu mua đảo Crete, Rhodes, Cyprus, quần đảo Dodecanese... và chủ quyền Libya.

Hải quân Áo đã hành động, họ cưỡng ép đổ bộ lên đảo Crete, xua đuổi các quan chức của chúng ta trên đảo."

Từ nửa năm trước, chính phủ Vienna đã đưa ra yêu cầu mua lãnh thổ với chính phủ Sultan, nhưng khi đó chính phủ Vienna còn dễ nói chuyện, và dưới sự can thiệp của Anh, Pháp, hai bên đã không đạt được thỏa thuận.

Tin tức về cuộc Đại khởi nghĩa Ấn Độ vẫn chưa đến được Ankara, chính phủ Sultan hoàn toàn không biết người Anh đang tự lo cho mình.

Thông tin bất cân xứng đã ảnh hưởng đến phán đoán của chính phủ Sultan. Nghe tin này, Abdul Mecid I lập tức nổi giận.

Đây thực sự là quá đáng, coi như Đế quốc Ottoman suy tàn, nhưng thuyền nát còn ba phần đinh, một đế quốc Ottoman lớn như vậy sao có thể dễ dàng sụp đổ như vậy?

"Lập tức mời Anh, Pháp ra mặt hòa giải, đồng thời gửi công hàm phản đối mạnh mẽ tới chính phủ Vienna, yêu cầu họ tuân thủ các quy tắc của Hệ thống Vienna!"

Không còn cách nào khác, chỉ còn ba phần đinh, không thể vứt bỏ hết được. Hải quân Ottoman không thể thắng, vậy thì kháng nghị một cách văn minh vậy.

Ngoại trưởng Fuad vội vàng trả lời: "Vâng, bệ hạ."

Sau Chiến tranh Cận Đông, Hệ thống Vienna không mấy thiện cảm với Đế quốc Ottoman, vị trí của Ngoại trưởng Fuad cũng không vững chắc.

Nguyên nhân chính ông vẫn có thể ở lại vị trí này là do nhu cầu chính trị. Đế quốc Ottoman không có nhiều nhân tài ngoại giao, và số người đủ tiêu chuẩn để trở thành ngoại trưởng còn ít hơn.

Fuad là lãnh đạo của phe thân Anh, nhận được sự ủng hộ của John Bull. Thêm vào đó, mọi người đều hiểu rằng tại Hội nghị Hòa bình Vienna, các cường quốc không cho họ con đường sống, nhờ đó ông mới giữ được vị trí.

Trong tình huống này, ông không thể không cẩn thận, nếu gây ra sự bất mãn của Abdul Mecid I, ông sẽ xong đời.

...

London

Chính phủ Anh nhận được tin tức về cuộc nổi dậy ở Ấn Độ sớm hơn một chút so với chính phủ Vienna, và quân đội dẹp loạn đã bắt đầu chuẩn bị.

Nhận được lời cầu cứu từ chính phủ Sultan, Granville cau mày nói: "Chúng ta đã cố gắng phong tỏa tin tức, không ngờ lại bị lộ nhanh như vậy."

Bộ trưởng Tài chính John Russell thản nhiên nói: "Điều này không có gì lạ, bất kỳ tin tức nào khi được đưa vào quốc hội thảo luận, đều sẽ trở thành một bí mật công khai.

Chỉ vài ngày nữa thôi, báo chí ở London cũng sẽ đăng tải. Người Áo muốn biết tin tức này, cũng không phải là chuyện khó khăn gì."

Đây là tình hình ở nước Anh, những chuyện lớn cần được quốc hội thảo luận. Mà miệng của các nghị viên quốc hội thì không thể giữ bí mật.

Việc họ có thể giữ bí mật trong vài ngày đã là có đạo đức nghề nghiệp rồi. Trên thực tế, trong khi họ thảo luận, báo chí ở London đã đăng tin tức.

Granville suy nghĩ một lúc rồi nói: "Vậy cũng tốt, vấn đề rò rỉ bí mật đến đây là kết thúc, đây là do thể chế quyết định, không phải trách nhiệm của chúng ta.

Vấn đề bây giờ là: Nếu người Áo biết tin tức về cuộc nổi dậy ở Ấn Độ, vậy tôi có thể mạnh dạn suy đoán rằng, phần lớn các quốc gia châu Âu đều biết tin tức này.

Việc nhanh chóng dẹp loạn cuộc nổi dậy trong thời gian ngắn nhất như kế hoạch ban đầu, không cho họ cơ hội lợi dụng, rõ ràng là không thể. Mọi người nghĩ nên giải quyết hậu quả như thế nào?"

Tầm quan trọng của Ấn Độ đối với Đế quốc Anh là điều không cần bàn cãi, nếu không có Ấn Độ, quyền bá chủ của người Anh sẽ sụp đổ.

Vào thời điểm này, Australia vẫn là nơi lưu đày tội phạm, thuộc địa New Zealand mới được khai mở, Nam Phi chỉ là một trạm trung chuyển, Canada vẫn chưa phát triển.

Không có Ấn Độ, một thị trường lớn kiêm nguồn cung cấp nguyên liệu, lợi thế công nghiệp của người Anh sẽ nhanh chóng mất đi, một nước Anh nhỏ bé, kiệt quệ tài nguyên không thể gánh nổi quyền bá chủ của họ.

Đây là sự thật mà ai cũng biết, những kẻ thèm khát quyền bá chủ của người Anh rất nhiều. Ngay cả khi họ không dám trực tiếp thách thức, việc tranh thủ cơ hội để giở trò mờ ám là điều không thể tránh khỏi.

Áo chỉ là kẻ nhảy ra đầu tiên, "giết gà dọa khỉ" là một lựa chọn, nhưng điều kiện tiên quyết là phải xác định con gà đó không biết bay. Nếu không giết được gà, thì sẽ thành ra lộng giả thành thật.

Ngoại trưởng Thomas trả lời: "Thưa Thủ tướng, Ấn Độ là điểm yếu của chúng ta, hiện tại xuất hiện khủng hoảng, kẻ thù của chúng ta sẽ lộ diện.

Tuy nhiên, các quốc gia cũng có mâu thuẫn sâu sắc, họ kiêng kỵ lẫn nhau, sợ bị người khác làm ngư ông đắc lợi, không dám trực tiếp thách thức chúng ta.

Người Áo có lẽ đang dùng người Ottoman làm quân cờ, thăm dò phản ứng của chúng ta. Nếu họ muốn thăm dò, chi bằng chúng ta cứ chơi với họ một ván.

Trước tiên, dùng đàm phán để trì hoãn thời gian, chỉ cần chúng ta dẹp loạn cuộc nổi dậy ở Ấn Độ trong thời gian ngắn nhất, họ sẽ tự động rút lui."

Đây là sự thật, nếu chính phủ London có thể dẹp loạn cuộc nổi dậy ở Ấn Độ trong vòng vài tháng, Franz sẽ phải sợ hãi.

John Russell nhắc nhở: "Thưa ông Thomas, đừng quên còn có người Nga. Các quốc gia khác sẽ kiêng ky sự trả thù của chúng ta, nhưng chính phủ Sa hoàng thì không.

Họ hiện đang ủng hộ người Ba Tư chống lại chúng ta, việc họ ủng hộ cuộc nổi dậy ở Ấn Độ cũng không có gì kỳ lạ. Thậm chí, cuộc nổi dậy ở Ấn Độ lần này, có lẽ đều có bóng dáng của người Nga."

Không còn cách nào khác, Chiến tranh Cận Đông khác với Chiến tranh Crimea trong lịch sử, chính phủ Sa hoàng mặc dù tổn thất nặng nề, nhưng trên danh nghĩa vẫn là người thắng.

Điều này giữ vững lòng kiêu hãnh của chính phủ Sa hoàng, với tư cách là người thắng, họ đương nhiên không thể cúi đầu nhận thua trước người Anh. Cuộc tranh giành quyền bá chủ Anh-Nga này vẫn tiếp diễn.

Nếu lúc này không gây chuyện, thì gấu Nga còn là gấu Nga sao? Người Anh bây giờ không thể dọa được người Nga, ngay cả khi muốn phong tỏa kinh tế cũng không làm được.

Dừng lại một chút, Thomas thong dong điểm tĩnh giải thích: "Dĩ nhiên, người Nga vẫn đáng ghét như vậy. Tuy nhiên, chính phủ Sa hoàng nổi tiếng là kém hiệu quả, khi họ quyết định can thiệp vào Ấn Độ, tôi nghĩ vở kịch này đã kết thúc.

Đường đến Trung Á cũng không dễ đi, với uy tín của chính phủ Sa hoàng, dù là Afghanistan hay Ba Tư cũng không dám cho người Nga mượn đường, trừ khi họ có thể đánh chiếm một con đường.

Tôi không cho rằng chính phủ Sa hoàng có đủ tài lực để phát động một cuộc chiến tranh như vậy. Cùng lắm cũng chỉ phái huấn luyện viên quân sự đến hỗ trợ quân nổi dậy, cung cấp vũ khí trang bị.

Điều này cũng mang đến cho chúng ta một chút phiền toái nhỏ, người Ấn Độ dù có được trang bị vũ khí, sức chiến đấu cũng không đáng nhắc đến."

Nghe được lời giải thích này, mặt Granville liền biến sắc, thần tình nghiêm túc nói: "Nếu có người cung cấp vốn cho người Nga thì sao?"

Sắc mặt của mọi người cũng trở nên khó coi, khuyết điểm lớn nhất của người Nga là tài chính, một khi có nhà tài trợ, tình hình sẽ thay đổi ngay lập tức.

Bộ trưởng Tài chính John Russell lên tiếng: "Trước mắt, chỉ có hai nhà có đủ khả năng cung cấp vốn cho người Nga, đó là người Pháp và người Áo. Nếu Bộ Ngoại giao có thể ổn định họ, thì sẽ không có vấn đề gì."

Khi nói điều này, ông đã thầm nguyền rủa các nhà tư bản ở London một lượt, không cho vay sớm, không cho vay muộn, vừa mới cho người Áo vay tiền, thì chuyện này đã xảy ra.

Nếu không phải gần đây chính phủ Vienna phát hành trái phiếu xây dựng khổng lồ, thì bây giờ chỉ có người Pháp có đủ khả năng hỗ trợ người Nga, như vậy vấn đề sẽ được giải quyết một nửa.

Tiền nào của nấy, lời hứa của các chính khách đáng giá mấy đồng? Không có vi ước, chỉ là lợi ích không đủ lớn, chỉ cần lợi ích đến nơi, trong giây lát sẽ lật lọng.

Lau mồ hôi trên trán, Thomas cố gắng giữ bình nh, dừng lại hồi lâu rồi mới chậm rãi nói:

"Tình hình vẫn chưa nghiêm trọng đến vậy, dù là người Pháp hay người Áo, họ đều không muốn thấy người Nga lớn mạnh.

Một khi để người Nga chiếm đoạt Ấn Độ, Áo sẽ là người hứng chịu áp lực lớn nhất, chính phủ Vienna không thể không nghĩ đến điều này.

Trong tình huống này, điều lớn nhất mà chính phủ Vienna có thể làm vẫn là dùng điều này làm điều kiện để trao đổi lợi ích với chúng ta.

Người Pháp vừa đánh một trận với người Nga, ngay cả khi muốn hòa hoãn quan hệ cũng cần thời gian, đây không phải là chuyện có thể làm được trong một sớm một chiều.

Chúng ta có thể phát động sức ảnh hưởng trong chính phủ Pháp, khơi mào đấu đá nội bộ, ngăn chặn tình huống này xảy ra."

Lời giải thích này khiến mọi người bớt lo lắng, chỉ cần không phải tình huống tồi tệ nhất, thì mọi chuyện đều dễ nói. Trao đổi lợi ích là điều họ am hiểu nhất.