Nhìn hai lá đơn từ chức trên tay, Franz chỉ biết thở dài.
Thời gian chẳng chờ đợi ai, và chẳng ai có thể thay đổi được điều đó.
Thống chế Radetzky đã 91 tuổi, và theo lịch sử thì ông cũng sắp qua đời. Tình hình hiện tại cũng chẳng khác mấy, dù trên danh nghĩa vẫn là Tổng Tham mưu trưởng, nhưng thực tế ông đã an dưỡng tuổi già từ ba năm trước.
Vị trí Tổng Tham mưu trưởng chỉ thực sự quan trọng trong thời chiến; thời bình chủ yếu là hoạch định chiến lược, không có nhiều việc cụ thể. Franz vẫn giữ lại chức vị cho vị nguyên soái già.
Rõ ràng, Thống chế Radetzky không muốn sống lay lắt. Khi nhận thấy sức khỏe không cho phép, ông thường xuyên đệ đơn xin từ chức lên Franz.
Lời lẽ trong đơn ngày càng gay gắt, nếu không được chấp thuận, người ta sẽ nghĩ rằng ông đang thách thức cấp trên. Sau một hồi do dự, Franz miễn cưỡng phê chuẩn đơn từ chức của ông.
Việc Thống chế Radetzky nghỉ việc chủ yếu khiến Franz buồn phiền về mặt tình cảm. Nhưng việc Metternich từ chức mới thật sự khiến anh đau đầu.
Bộ trưởng Ngoại giao không phải là một chức vụ hư danh, mà là một trong ba chức vụ quan trọng nhất, ngang hàng với Thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính.
Metternich cũng đã 85 tuổi, hiển nhiên là không còn đủ sức đảm đương công việc. Hầu hết các công việc của Bộ Ngoại giao hiện đều do các trợ lý quản lý, ông chỉ can thiệp vào những vấn đề quan trọng.
Hai năm trước, Franz đã đặc biệt cho phép ông tự quyết định giờ làm việc, địa điểm làm việc tùy ý và không cần báo cáo khi nghỉ phép.
Sau một hồi cảm thán, Franz buộc phải chấp nhận việc hai vị lão thần rời đi. Hoặc có lẽ không phải hai, mà là ba người, Đại công tước Louis cũng sắp rời đi.
Franz dám chắc rằng, một khi Metternich nghỉ việc, ông cũng sẽ không ở lại. Đã tám mươi mấy tuổi, đấu đá với đối thủ chính trị mấy chục năm trời, còn ở lại làm gì nữa?
Vị này năng lực không thể so sánh với hai vị trước, chỉ có thể coi là người tầm trung, thậm chí có phần bình thường. Nhưng vào thời điểm ban đầu nhất, khi Franz khơi mào mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và quý tộc, ông chính là người ủng hộ anh.
Trong chính trị, nhiều vấn đề không thể nhìn bề ngoài. Đại công tước Louis đã thay Franz gánh chịu nhiều trách nhiệm. Vì thế, trong cuộc nổi loạn ở Vienna, ông đã hy sinh một người con trai.
Bỏ qua năng lực không đáng kể, lòng trung thành của ông vẫn rất cao. Những năm qua, ông đã giúp Franz kéo đủ sự thù hận từ giới tư bản, kiên định lãnh đạo tập đoàn quý tộc chèn ép giai cấp tư sản.
Nếu không có họ, có lẽ giới tư bản trong nước đã không ngoan ngoãn như vậy. Đừng nói đâu xa, luật bảo vệ người lao động đã không thể thi hành, lao động trẻ em đã không được trở lại trường học, và mâu thuẫn giai cấp trong nước đã không bị kiểm chế.
Không còn cách nào khác, điều cốt yếu của việc trị quốc là sự cân bằng. Trong thời đại kinh tế phát triển tốc độ cao, thực lực của giai cấp tư sản đã tăng lên mạnh mẽ. Nếu không có sự ràng buộc, những người này sẽ sớm biến đất nước thành một mớ hỗn độn.
Sự tích lũy tư bản ban đầu luôn đẫm máu, và những người này vẫn còn trong giai đoạn hám lợi, hoàn toàn không quan tâm đến danh tiếng sau khi chết.
Để đảm bảo sự ổn định trong nước, Franz buộc phải tròng thêm xiềng xích cho họ.
Và cần có người thực thi những xiềng xích này. Người thi hành không thể là hoàng đế, mà phải là phái bảo thủ đóng vai một con dao.
Hiệu quả cũng tương đối rõ ràng, có sự ước thúc, các nhà tư bản biết đâu là giới hạn, cách ăn cũng trở nên dễ coi hơn một chút.
Franz sẽ không nghe những lời thổi phồng của họ về việc chi phí nhân lực tăng lên, làm suy yếu khả năng cạnh tranh của thị trường; trên thực tế, phần lớn những điều này đều là dùng để lừa gạt người khác.
Nói về chi phí nhân lực, sao không so sánh với các nước Anh, Pháp? Là một nước xuất khẩu nông sản lớn, chi phí sinh hoạt ở Áo thấp hơn Anh, Pháp.
Rõ ràng là vì kiếm lợi nhuận lớn mà phạm pháp, hết lần này đến lần khác lại nói là do cạnh tranh thị trường tạo thành. Muốn cổ xúy cho chi phí nhân lực cao, cũng phải so sánh mới biết.
Trong thời đại này, những nước có tư cách so sánh với Áo là Anh và Pháp. So với hai nước này, Áo vẫn có lợi thế.
Nếu so sánh chỉ phí nhân công với gấu xù, thì chắc chắn không cần bàn cãi. Nhà máy của họ đều sử dụng nông nô miễn phí, không thể quay ngược lịch sử được.
Franz có thể khẳng định rằng, thời đại này đầu tư vào công nghiệp vẫn đang ở giai đoạn hoàng kim, xí nghiệp có lãi gộp thấp hơn ba mươi phần trăm đều thuộc loại có thể đào thải.
Chỉ sợ lợi nhuận tăng trưởng gấp mười lần, các nhà tư bản vẫn sẽ cảm thấy lợi nhuận thấp. Franz hiểu rõ điều này, ngay cả anh còn cảm thấy tỷ lệ hồi vốn của việc khai thác mỏ vàng là thấp!
Bài học lớn nhất từ mặt trái là Anh và Pháp. Sau lần thứ hai cách mạng công nghiệp bùng nổ, sản xuất công nghiệp của họ đã tụt lại phía sau.
Nguyên nhân tụt lại không phải do kỹ thuật, cũng không phải do thị trường. Nguyên nhân thực tế khiến người ta dở khóc dở cười: nằm ngửa cũng có tiền, vậy tại sao phải cố gắng?
Họ có nguyên liệu rẻ hơn, có thị trường phong phú, không cần cải tiến kỹ thuật vẫn kiếm được tiền.
Xét về lợi ích, việc thay đổi thiết bị cơ khí cũng cần đầu tư. Trong thời đại biến đổi từng ngày, tốc độ đổi mới thiết bị cơ khí lại nhanh, vì tối đa hóa lợi nhuận, họ dứt khoát không thay đổi.
Ngược lại, chi phí nhân công và chi phí nguyên liệu cao hơn đế quốc Đức, bị áp lực bởi sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, họ buộc phải thúc đẩy cải tiến kỹ thuật. Chỉ có kỹ thuật mới mới có thể giúp họ sống sót.
Tích tiểu thành đại, Anh và Pháp, những nước có ưu thế tuyệt đối, cứ như vậy bị vượt qua.
Nếu không có áp lực sinh tồn, Franz rất nghi ngờ rằng Áo sẽ đi theo vết xe đổ của Anh và Pháp. Một khi mọi người hình thành thói quen xấu này, thì việc sửa đổi sẽ rất khó khăn.
Thậm chí, những người này vì có sức lao động rẻ hơn, sẽ còn thúc đẩy một số chính sách hại não, trong đầu căn bản không có khái niệm về lợi ích quốc gia.
Không chỉ phải đề phòng các nhà tư bản suy đồi, đồng thời còn phải cảnh giác quý tộc suy đồi. Con người đều giống nhau, một khi không có áp lực, rất dễ sa đọa.
Đối với Franz, sự suy đồi của giai cấp quý tộc còn đáng sợ hơn sự suy đồi của nhà tư bản. Đây là cơ sở thống trị của anh, một khi giai cấp này xuất hiện vấn đề, sự thống trị cũng không ổn định.
Những người này mới thực sự gắn bó với hoàng đế, căn cơ đều ở Áo, chi phí phản bội tương đối cao. Họ không thể học theo các nhà tư bản, chỉ cần thấy lợi ích lớn hơn, nói phản bội là phản bội.
Việc thúc đẩy phong trào thực dân hải ngoại, chế độ thi công chức trong nước, khơi mào mâu thuẫn giữa quý tộc và giai cấp tư sản, trên thực tế đều là để tạo áp lực cho quý tộc.
Để cho họ biết rằng hôm nay không cố gắng, ngày mai sẽ bị người khác thay thế. Trước thực tế tàn khốc, rất nhiều quý tộc bên bờ vực phá sản, hoặc đã phá sản, đều trở thành những người tiên phong trong phong trào thực dân.
Để không cho giới tinh anh trong nước suy đồi, Franz đã hao tâm tổn trí. Rất nhiều chính sách đều xoay quanh vấn đề này.
...
Việc điều chỉnh nhân sự tiếp theo khiến Franz đau đầu.
Vị trí Tổng Tham mưu trưởng dễ tìm người nhất, người ứng cử rất nhiều, và người có thể đảm nhiệm cũng không ít.
Cuối cùng, cuộc so tài là về quốc lực. Tổng hợp quốc lực đi lên, trực tiếp dùng thực lực đề chết đối thủ, đó là chiến lược và chiến thuật đáng tin cậy nhất.
Người kế nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao cũng đã được bồi dưỡng, mặc dù năng lực không sánh bằng Metternich, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình của các quốc gia khác.
Về bản chất, ngoại giao cũng được xây dựng trên thực lực của quốc gia. Nước yếu không có ngoại giao. Nếu không có thực lực, quan ngoại giao lợi hại hơn nữa cũng không có đất dụng võ.
Ngược lại, vị trí Bộ trưởng Nội chính lại càng thêm phiền toái. Để duy trì sự cân bằng chính trị trong nước, người này nhất định phải xuất thân từ phái bảo thủ, lại phải có năng lực nhất định, có thể khiến mọi người tin phục, và phải có thể làm việc theo ý chí của Franz.
Chỉ cần đáp ứng một trong những điều kiện đó thì có rất nhiều người, nhưng người có thể đáp ứng tất cả các điều kiện thì toàn bộ chính phủ Vienna cũng không có mấy.
