Logo
Chương 352: Ngoại giao biến cục

St. Petersburg, chính phủ Sa Hoàng giờ mới "giật mình" phản úng lại. Rõ ràng có kẻ đang muốn hãm hại họ.

Đánh thắng cuộc chiến Cận Đông, chiếm Constantinople, đế quốc Nga tưởng chừng như đang ở đỉnh cao vinh quang, nhưng thực tế lại đẩy hận thù lên đến cực điểm.

Những kẻ thất bại như Anh, Pháp không cam tâm, luôn tìm cách trả thù. Các nước châu Âu khác thì lo sợ Nga quá mạnh, đe dọa đến an ninh của họ.

Tất cả những điều này, vô tình hay hữu ý bị một thế lực nào đó thúc đẩy, dẫn đến cục diện hiện tại. Chỉ cần mỗi bên "nhả" ra một chút, các tổ chức đòi độc lập cho Ba Lan liền lớn mạnh.

Trong Cung điện Mùa đông,

Alexander II gầm lên: "Lũ hỗn đản kia! Đến lượt chúng quơ tay múa chân vào đế quốc Nga vĩ đại bao giờ?"

Sự can thiệp ngoại giao của các quốc gia khác đã chọc giận Sa Hoàng. Từ trước đến nay, họ luôn can thiệp vào chuyện nội bộ của nước khác, ai dám can thiệp vào chuyện của họ?

Còn vấn đề Ba Lan có phải là nội chính của Nga hay không ư? Cần phải cân nhắc sao? Một khi đã bị chính phủ Sa Hoàng chiếm đóng, đó là lãnh thổ của Nga, bên ngoài có công nhận hay không không quan trọng.

Không ai dám chọc giận Sa Hoàng, mọi người im lặng chờ Alexander II trút cơn giận.

...

"Đội quân đẹp loạn xuất phát chưa? Ta phải treo cổ hết lũ phản đồ đó!" Alexander II nghiến răng nói.

Nghe Alexander II hỏi, mọi người biết Sa Hoàng đã bình tĩnh lại.

Bộ trưởng Lục quân Matthias đáp: "Một trăm ngàn quân đã lên đường từ biển Baltic, hai ngày nữa sẽ tiến vào Ba Lan để trấn áp cuộc nổi loạn."

Bọn ly khai đòi độc lập ở Ba Lan không đáng để ai bận tâm. Nếu đế quốc Nga yếu ớt đến vậy, đã bị xé xác từ lâu rồi.

Alexander II hỏi tiếp: "Người Áo nói gì? Họ có đưa ra lời giải thích hợp lý không?"

Bộ trưởng Ngoại giao Clarence Ivanov trả lời: "Chính phủ Vienna nói họ không biết gì về chuyện này, cho rằng đây là hành động của Anh, Pháp, cố ý gây chia rễ quan hệ giữa hai nước.

Họ cung cấp một số tài liệu về những kẻ nổi loạn, phần lớn không phải là dân thường trú ở Áo, mà là những người mới đến trong vài năm gần đây, hoặc có hồ sơ từng phục vụ trong quân đội Anh, Pháp."

Chắc chắn phần lớn những tài liệu này là giả mạo. Để trốn tránh trách nhiệm, chính phủ Vienna không ngại đổ tội cho Anh, Pháp, dù sao việc truy tìm sự thật vào thời điểm này là rất khó.

Câu trả lời này khó mà chấp nhận, nhưng chính phủ Sa Hoàng buộc phải chấp nhận. Trong số các cường quốc, chỉ còn Áo ủng hộ họ, không thể vì chuyện này mà biến đồng minh thành kẻ thù.

Alexander II tức giận hỏi: "Vậy còn Phổ thì sao? Chẳng lẽ Anh, Pháp cũng muốn gây chia rẽ quan hệ giữa Nga và Phổ?"

Đừng nghĩ ông ta là người thân Phổ, trước lợi ích quốc gia, lập trường này có thể thay đổi bất cứ lúc nào.

Bộ trưởng Ngoại giao Clarence trả lời: "Không, chính phủ Berlin nói đó là hành động tự phát của người dân, không liên quan đến họ.

Để ngăn chặn tình huống này tái diễn, chính phủ Berlin tuyên bố tước quốc tịch những người đó, và giao cho chúng ta xử lý."

Lời giải thích này còn vô lý hơn cả của chính phủ Vienna. Chính phủ Berlin không còn cách nào khác, vì họ đã hỗ trợ các tổ chức độc lập của Ba Lan rất nhiều, không thể che giấu được.

Quan hệ Nga-Áo vốn rất tốt trong mấy chục năm gần đây, chính phủ Vienna có thể trơ trẽn đổ tội lên đầu Anh, Pháp, còn Phổ thì không thể. Vốn dĩ quan hệ hai nước đã không tốt, không cần ai gây chia rẽ.

Hơn nữa, Phổ còn chuẩn bị tấn công Đan Mạch, dù bây giờ có làm hòa với chính phủ Sa Hoàng cũng vô ích.

Trầm tư một hồi, Alexander II xâu chuỗi mọi việc lại, hóa ra các nước châu Âu không muốn Nga hoàn thành cải cách và trở nên hùng mạnh hơn.

Khi biết chân tướng, Alexander II bình tĩnh lại.

"Bất kể bên ngoài phản ứng thế nào, cuộc nổi loạn ở Ba Lan phải bị dẹp tan. Bộ Ngoại giao phải cố gắng, nếu cả châu Âu trở thành kẻ thù của Nga, thì đồng minh của chúng ta ở đâu?

Không thể lúc nào cũng dựa vào Áo. Đến một ngày nào đó, lợi ích hai nước xung đột, hoặc chính phủ Vienna cảm thấy liên minh này không còn mang lại lợi ích cho họ, lúc đó hối hận cũng muộn!"

Đế quốc Nga cần đồng minh mới, cần thay đổi trạng thái bị động trong ngoại giao.

"Vâng, bệ hạ," Bộ trưởng Ngoại giao Clarence cười khổ đáp.

Không phải họ không cố gắng, mà là Nga thực sự không tìm được đồng minh thích hợp vào lúc này. Chính trị khu vực đã định đoạt, các quốc gia châu Âu đương nhiên đứng ở phía đối lập với họ.

Trừ khi chính phủ Sa Hoàng từ bỏ chiến lược ở châu Âu, vĩnh viễn không mở rộng ở khu vực này. Nếu không, xung đột là không thể tránh khỏi.

Không một quốc gia châu Âu nào muốn thấy đế quốc Nga tiếp tục lớn mạnh, một nước Nga hùng mạnh sẽ đe dọa sự tồn tại của tất cả.

Quan hệ Nga-Phổ trở nên tồi tệ không chỉ vì vấn đề Đan Mạch, mà còn vì chính phủ Sa Hoàng muốn mở rộng ở châu Âu. Franz chỉ là người đâm thủng lớp giấy mỏng này.

Cảm thấy an ninh bị đe dọa, Vương quốc Phổ buộc phải dựa vào Anh, Pháp. Phe chống Nga lớn mạnh, vì Nga và Áo chia cắt Vương quốc Phổ bằng thanh kiếm Damocles lơ lửng.

...

Không thể phá vỡ thế bế tắc ở châu Âu, tạo điều kiện cho Nga và Mỹ xích lại gần nhau. Mùa thu năm 1864, chính phủ Sa Hoàng cử hạm đội hải quân ra khỏi biển đến thăm nước Mỹ.

Đây không phải là lựa chọn tốt nhất, nhưng là lựa chọn duy nhất của chính phủ Sa Hoàng và nước Mỹ. Hai kẻ bị cô lập, chọn đoàn kết để sưởi ấm cho nhau là chuyện bình thường.

Hiệu ứng cánh bướm của Eranz chỉ là làm chậm trễ thời gian xích lại gần nhau giữa Mỹ và Nga hai năm.

Chính phủ Sa Hoàng muốn lợi dụng chính phủ liên bang để phân tán sự chú ý của các nước châu Âu, giải tỏa áp lực ngoại giao của họ ở châu Âu. Còn chính phủ liên bang hy vọng nhận được sự ủng hộ của Nga, giảm bớt áp lực từ một số cường quốc.

Cuối năm 1864, vào thời khắc then chốt khi cuộc nội chiến ở Mỹ sắp phân thắng bại, người Nga đứng về phía chính phủ phương Bắc, bơm một liều thuốc trợ tim cho chính phủ liên bang đang đóng đô ở New York.

...

Bờ biển Tây của nước Mỹ, vào thời điểm này vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển. Ngay cả "California" lừng lẫy sau này, bây giờ cũng chỉ mới bắt đầu, còn kém xa so với các bang ở bờ biển Đông.

Sau khi nội chiến Mỹ bùng nổ, lực lượng chủ lực của hải quân liên bang đều tập trung ở bờ biển Đông. Không phải chính phủ Lincoln thiên vị, hoàn toàn là do tình hình thực tế.

Ngành đóng tàu của nước Mỹ vào thời điểm này tập trung ở bờ biển Đông, công nghiệp đóng tàu ở bờ biển Tây còn lạc hậu, không có khả năng đóng tàu chiến.

Trước khi nội chiến bùng nổ, hải quân liên bang vốn đã không đủ tàu chiến. Khu vực giao tranh giữa hai miền Nam, Bắc đều ở khu vực bờ biển Đông, vì sự can thiệp của các cường quốc, hải quân liên bang không thể chiếm được ưu thế, chính phủ liên bang đương nhiên không có khả năng phái tàu chiến tăng viện cho bờ biển Tây.

Đương nhiên, hải quân của chính phủ miền Nam cũng không xuất hiện ở bờ biển Tây, kẻ thù mà các bang duyên hải phía tây phải đối mặt là các hạm đội cướp bóc, nói cách khác là cướp biển hợp pháp.

Sau khi nội chiến bùng nổ, hai miền Nam, Bắc đều ban hành giấy phép cướp bóc để tấn công hoạt động vận chuyển trên biển của đối phương.

Vì bờ tây Thái Bình Dương có ít đảo, cướp biển thiếu điểm tiếp tế, so với các nơi khác, bờ biển Tây của nước Mỹ coi như thái bình.

Ngoại trừ việc thỉnh thoảng bị một vài toán cướp biển "ghé thăm", phần lớn thời gian họ đều tránh xa được mối đe dọa của chiến tranh. Cho đến vài tháng trước, tình hình thay đổi, số lượng cướp biển ở bờ biển Tây đột nhiên tăng lên.

Bọn cướp biển hung hãn chiếm giữ quần đảo ngoài khơi California, thường xuyên tấn công các bến cảng ven biển, khiến các bang ở bờ biển Tây vô cùng khổ sở.

Ai cũng biết, đại bản doanh của bọn cướp biển ở đế quốc Mexico. Hai nước vốn đã có thù sâu như biển, chính phủ Mexico gây thêm rắc rối cho họ vào lúc này cũng không có gì lạ.

Việc tiêu diệt cướp biển là điều không thể, chính phủ liên bang còn đang chật vật với cuộc nội chiến, nếu khơi mào thêm chiến tranh nữa, chắc chắn sẽ không chịu nổi.

Mexico dù có suy yếu đến đâu, cũng không phải là thứ mà mấy bang ở bờ biển Tây có thể "nuốt" được. Ngoài việc phản đối bằng đường ngoại giao, chính phủ liên bang có thể làm rất ít.

Trong bối cảnh đó, Hạm đội Viễn Đông của Nga đến thăm San Francisco, tiện tay tiêu diệt một chiếc tàu hải tặc. Hạm đội Nga ngay lập tức được người dân California đang chịu đựng sự đe dọa của cướp biển nhiệt liệt chào đón.

Vốn chỉ là để thiết lập quan hệ, Thiếu tướng Popov sau vài chén rượu đã bị tâng bốc đến mức không biết trời trăng gì nữa, mơ hồ đưa ra cam kết sẽ đánh dẹp cướp biển.

Người nói vô tình, người nghe hữu ý.

Tham gia bữa tiệc không chỉ có người Mỹ, các công sứ từ các nước đóng tại California cũng có mặt. Mặc dù mọi người có những nghi ngờ về sự can thiệp vào cuộc nội chiến, nhưng người Mỹ vẫn phải tuân thủ các nghi thức ngoại giao.

Sau khi bữa tiệc kết thúc, đại diện của Anh đã đến tòa sứ quán Áo ở California.

"Carter, anh không cảm thấy người Nga quá kiêu ngạo sao? Với mấy chiếc tàu tồi tàn đó, còn muốn đánh dẹp cướp biển, tôi thấy để cướp biển đánh cho thì có," đại diện của Anh, Rhodes thăm dò nói.

Hạm đội Viễn Đông của Nga vốn đã không có nhiều tàu, huống chi đây chỉ là một phần trong số đó, việc không thắng được cướp biển cũng không có gì lạ, dù sao đây không phải là cướp biển bình thường.

Nếu ai đó có tâm điều tra một phen sẽ phát hiện, bọn cướp biển này đến từ Nam Dương, khu vực Ấn Độ Dương. Việc chúng xuất hiện ở bờ biển Tây chắc chắn là có người thao túng.

Nguyên nhân chủ yếu là do lợi ích. Cướp biển cướp bóc cũng cần tiêu thụ tang vật, và đương nhiên có lợi nhuận trong đó.

Có lẽ nhiều người cho rằng cướp biển là một nghề béo bở, nhưng thực tế việc nắm giữ các điểm tiêu thụ tang vật mới thực sự là "béo"..

Cùng một loại hàng hóa, khi vào điểm tiêu thụ tang vật giá chỉ còn ba, bốn phần, kẻ kiếm được nhiều lợi nhuận nhất không phải là cướp biển, mà là đường dây tiêu thụ tang vật phía sau.

Việc mở một đường dây như vậy ở Mexico rõ ràng không hề đơn giản. Nếu không có một "ô dù", có lẽ đã bị hải quân các nước tiêu diệt từ lâu.

Chắc chắn Rhodes đã bị lôi kéo vào cuộc. Người Nga muốn đánh dẹp cướp biển, chính là đang chặt đứt đường làm giàu của hắn.

Việc thăm dò thái độ của Áo là để lo lắng Hạm đội Trung Mỹ của Áo sẽ ra mặt giúp người Nga. Không thể vừa mới tiêu diệt người Nga, lại rước thêm phiền toái lớn hơn.

Đại diện của Áo, Carter vô cùng phối hợp nói: "Không còn cách nào, có lẽ người Nga vẫn luôn ngạo mạn như vậy. Hoặc có lẽ họ muốn thông qua việc đánh đẹp cướp biển để phát tài.

Anh phải biết, số tiền hàng mà bọn hải tặc cướp được trong mấy tháng gần đây lên tới hàng chục triệu đô la, dù chỉ còn lại một phần mười trong số đó, thì đó cũng là một khoản tiền lớn."

Nói tóm lại, có tiền mua tiên cũng được. Chỉ cần có lợi ích, dù hạm đội Nga bị tiêu diệt toàn quân cũng không thành vấn đề.

Nga và Áo là đồng minh, nhưng không có nghĩa là lợi ích của hai nước không có xung đột. Ví dụ như bây giờ: Áo ủng hộ chính phủ miền Nam, người Nga ủng hộ chính phủ miền Bắc, hai bên đứng ở phía đối lập.

Để tránh ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, mọi người đương nhiên phải né tránh lẫn nhau. Carter và đại diện của Nga chỉ chào hỏi xã giao, sau đó không còn liên lạc.

Trên thực tế, điều này cũng thể hiện lập trường, trong các vấn đề ở châu Mỹ, Nga không thể nhận được sự giúp đỡ của Áo.

Việc người Anh tấn công hạm đội Nga, không chỉ đơn giản như vẻ bề ngoài. Về mặt cá nhân, đó là vì lợi ích bị tổn hại; về mặt công khai, đó là để dập tắt sự kiêu ngạo của người Nga.

Một hạm đội đi thăm nước ngoài, khi đang đánh dẹp cướp biển lại bị hải tặc tiêu diệt. Nếu chuyện như vậy xảy ra, chính phủ Sa Hoàng ít nhất sẽ bị chế giễu trong hai mươi năm.

Sự ủng hộ ngoại giao mà người Nga mang đến cho chính phủ phương Bắc cũng sẽ vì thế mà tan thành mây khói.