Logo
Chương 351: Biến mất cảm giác tiên tri, tâm tính biến hóa

Với tâm tính buông lỏng, người Nga nhanh chóng phải trả giá đắt cho hành động của mình. Phong trào độc lập ở Ba Lan bùng nổ mạnh mẽ hơn nhiều so với lịch sử.

Anh và Pháp tăng cường viện trợ tài chính cho các tổ chức độc lập. Sau khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, các tổ chức này nhanh chóng thành lập một đội quân và bắt đầu lan rộng ra khắp nơi.

Franz, với vai trò là một người ngoài cuộc, sớm nhận được thư kháng nghị từ chính phủ Sa hoàng.

Franz kinh ngạc hỏi: "Thủ tướng, ngài chắc chắn những gì trong thư kháng nghị này là sự thật?"

Ông không khỏi kinh ngạc bởi vì có tới bốn trăm người tình nguyện từ Áo tham gia cuộc khởi nghĩa ở Ba Lan lần này. Phần lớn trong số họ là quân nhân Ba Lan đã giải ngũ thuộc Áo.

Phong trào độc lập Ba Lan có thể tập hợp được một lực lượng vũ trang lớn như vậy ngay dưới mũi chính phủ Vienna thì chắc chắn có vấn đề.

Việc ngấm ngầm gây khó dễ cho người Nga là một chuyện, nhưng việc công khai có quá nhiều người tình nguyện tham gia chẳng khác nào tuyên bố với thế giới rằng Áo đang ủng hộ phong trào độc lập Ba Lan.

Liên minh Nga - Áo vẫn chưa tan rã, làm như vậy chẳng khác nào đâm sau lưng chính phủ Sa hoàng, về mặt đạo nghĩa là không chấp nhận được!

Thủ tướng Felix lúng túng trả lời: "Bệ hạ, đúng là có rất nhiều người Ba Lan ở vùng Galicia ủng hộ cuộc khởi nghĩa này. Số người tham gia không chỉ là bốn trăm, mà chúng ta thống kê được là tám trăm người.

Và con số này có thể sẽ còn tăng lên. Trước đây chúng ta đã đánh giá sai tình hình, không ngờ lại có nhiều người tham gia đến vậy, nên đã không có biện pháp ngăn chặn."

Franz xoa trán, không biết nên nói gì cho phải. Sau khi phong trào độc lập Ba Lan bùng nổ, người Ba Lan từ khắp nơi trên thế giới đều tham gia.

Ở Áo có hàng triệu người Ba Lan, việc một số người tình nguyện tham gia là điều không thể tránh khỏi, nhưng số lượng này là quá lớn.

"Có ai đang gài bẫy chúng ta không?" Franz nghi ngờ hỏi.

Ông rất nghi ngờ đây là âm mưu của Anh và Pháp, nhằm mục đích kích động quan hệ Nga - Áo, phá vỡ liên minh giữa hai nước.

Thủ tướng Felix đáp: "Bệ hạ, xin hãy yên tâm. Chúng ta đã điều tra, những người này không có vấn đề, đích thực là tự nguyện tham gia khởi nghĩa.

Trong số đó, nhiều người vốn là cư dân vùng Ba Lan thuộc Nga, vì không chịu nổi sự thống trị của người Nga nên đã dĩ cư đến Galicia.

Việc họ quay trở lại tham gia khởi nghĩa phần lớn là do lòng căm thù. Chúng ta đã có biện pháp xử lý, tình huống như vậy sẽ không tiếp diễn."

Đối mặt với kết quả này, Franz chỉ có thể đổ lỗi cho người Nga quá kém cỏi. Đến mức người ta phải lưu vong, nhưng vẫn không quên báo thù.

Tất nhiên, chắc chắn có người trong chính phủ Vienna đã tạo điều kiện cho họ, nếu không thì không thể có nhiều người thuận lợi tiến vào Ba Lan như vậy.

Franz suy nghĩ một lúc rồi nói: "Bộ Ngoại giao từ từ giải thích với người Nga, đồng thời đưa ra tuyên bố ngoại giao rằng vấn đề Ba Lan thuộc Nga là vấn đề nội bộ của đế quốc Nga, các quốc gia khác không nên can thiệp."

Dù thế nào đi nữa, sự việc đã xây ra, chỉ còn cách tìm cách giải quyết hậu quả. Vừa hay Anh và Pháp đã lên tiếng ủng hộ các tổ chức độc lập Ba Lan trên trường quốc tế, các nước châu Âu khác cũng hưởng ứng theo. Chính phủ Sa hoàng vẫn cần sự ủng hộ của Áo.

Sau chuyện này, Franz cũng không mong đợi có được lợi lộc gì. Trước hết phải bày tỏ thái độ, còn việc người Nga có tin hay không thì đành phó mặc cho số phận.

Chuyện này đủ để gây rạn nứt quan hệ giữa hai nước, nhưng vẫn còn một khoảng cách nữa mới đến sự tan vỡ của liên minh Nga - Áo. Chỉ cần liên minh vẫn còn, thì sau này từ từ hàn gắn quan hệ.

Ngoại trưởng Wesenberg đáp: "Bệ hạ, người Nga chẳng mấy chốc sẽ tự lo không xong. Theo tin tức từ đại sứ quán của chúng ta ở St. Petersburg, quân khởi nghĩa Ba Lan đã vượt quá một trăm nghìn người.

Các tổ chức độc lập Ba Lan đã sớm có dự mưu. Sau khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, với sự phối hợp từ bên trong, hơn trăm nghìn quân Nga đóng tại Ba Lan đã bị quân khởi nghĩa đánh cho tan tác.

Nhiều đơn vị còn chưa kịp phản ứng đã bị bắt làm tù binh, không ít binh lính thậm chí còn gia nhập phong trào độc lập Ba Lan. Có vẻ như các tổ chức cách mạng Nga đã liên kết với người Ba Lan.

Từ những tài liệu chúng ta thu thập được, quân khởi nghĩa không hoàn toàn là đám ô hợp, các chỉ huy của họ đã được huấn luyện quân sự ngắn hạn.

Từ khi cuộc khởi nghĩa Ba Lan nổ ra đến nay, có ít nhất năm nghìn người tình nguyện từ khắp nơi trên thế giới tham gia. Những người này phần lớn đã được huấn luyện quân sự và trở thành chỉ huy của quân khởi nghĩa.

Bộ Ngoại giao nghi ngờ có người đã cung cấp huấn luyện quân sự cho các tổ chức độc lập Ba Lan. Những người tình nguyện này có lẽ đã được huấn luyện từ trước, sau đó nhanh chóng tiến vào Ba Lan sau khi cuộc khởi nghĩa nổ ra để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa."

Sắc mặt Franz thay đổi. Đây có lẽ là sự thật. Ngay cả một nước như Áo, vốn chỉ ngấm ngầm gây khó dễ, cũng có thể tập hợp được mấy trăm người tình nguyện, thì Anh và Pháp, với những hành động công khai, chắc chắn còn làm được nhiều hơn thế.

Việc giúp các tổ chức độc lập Ba Lan huấn luyện nhân lực có khó không?

Đối với những kẻ lưu manh lớn thì quá dễ dàng. Chiêu mộ một đám người Ba Lan chống Nga, sau đó tiến hành huấn luyện đơn giản, thả vào thuộc địa đánh vài trận, ai sống sót thì đạt tiêu chuẩn binh lính.

Nếu có cả các tổ chức cách mạng Nga tham gia, thì mọi chuyện càng trở nên phức tạp hơn. Điều đó có nghĩa là cuộc nổi dậy sẽ không chỉ giới hạn ở Ba Lan, mà còn có thể lan rộng ra khắp các khu vực rộng lớn của đế quốc Nga.

Đế quốc Nga đang trong quá trình cải cách, không thể nghi ngờ là đang ở ngã tư đường. Đây là thời điểm dễ xảy ra vấn đề nhất, vì có quá nhiều người bất mãn với chính phủ Sa hoàng.

Những người cấp tiến thì cho rằng cải cách của chính phủ Sa hoàng chưa triệt để, còn những người bảo thủ thì cảm thấy cải cách của chính phủ Sa hoàng gây tổn hại đến lợi ích của họ. Một khi những người bất mãn này bị kích động, ai biết họ sẽ làm ra chuyện gì?

Phải biết rằng, kể từ khi Alexander II bắt đầu cải cách, nội bộ đế quốc Nga chưa bao giờ được yên bình. Những người. nông nô vừa mới được tự do đang than thở vì số tiền chuộc đất quá lớn.

Việc chuộc đất ở Nga không được hài hòa như ở Áo. Số tiền chuộc này đều phải trả lãi, khác với việc Franz thống nhất tiêu chuẩn thanh toán.

Ở Áo, số tiền chuộc đất về cơ bản dựa trên lợi nhuận sản xuất trên đất trong 5-10 năm, do chính phủ thống nhất thu rồi giao lại cho chủ đất.

Nông dân có thể trả dần trong vòng bốn mươi năm, không tính lãi. Số tiền chuộc phải trả hàng năm nằm trong khả năng chi trả của mọi người.

Vì do nhà nước thống nhất gánh vác nên tiêu chuẩn thu cũng chỉ là hai mươi phần trăm sản lượng thực tế hàng năm của đất. Có thể đóng nhiều hoặc đóng ít, miễn là trả hết trong thời hạn quy định.

Vì yếu tố nổi loạn, chính phủ đã tịch thu tài sản của không ít địa chủ. Trên thực tế, chính phủ Vienna vẫn kiếm được rất nhiều từ việc này, và có thể lấy ra một phần tiền để bù đắp cho những trường hợp không đủ tiền chuộc đất.

Ở chính phủ Sa hoàng thì không được như vậy. Các địa chủ vẫn sống rất tốt, phần lớn đất đai đều thuộc về giới quý tộc. Trước cuộc cải cách, số lượng trang viên của dân thường ở Nga không đủ hai mươi, nông dân tự do cũng chỉ có một ít đất.

Trong bối cảnh đó, việc ép giá chuộc đất xuống là điều không thể. Việc thống nhất thu và không tính lãi càng không thể nào.

Nếu không phải vì cuộc đại cách mạng, Franz cũng không có khả năng ép buộc giới quý tộc chấp nhận những điều kiện hà khắc như vậy. Trên thực tế, cuộc cải cách ruộng đất ở Áo cũng chưa hoàn toàn.

Rất nhiều quý tộc không bị liên lụy trong cuộc nổi loạn, hoặc ở những khu vực không bị ảnh hưởng bởi cuộc nổi loạn, vẫn có rất nhiều đất đai. Chỉ cần họ không muốn, chính phủ cũng không thể cưỡng chế chuộc lại.

Sở dĩ không bùng nổ mâu thuẫn xã hội chủ yếu là do chính phủ Vienna ép số lượng đất chuộc bình quân đầu người xuống, đảm bảo mọi người đều có thể chuộc được đất, chỉ là vị trí không xác định.

Sau đó, nhờ mở rộng ở bán đảo Balkans và các thuộc địa hải ngoại, nguồn cung đất đai mới trở nên thoải mái hơn, và các mâu thuẫn về đất đai mới được giải quyết triệt để.

Bây giờ, khẩu hiệu tuyên truyền của Bộ Thuộc địa là: "Muốn có trang trại của riêng mình sao? Hãy đến các thuộc địa khai hoang.

Muốn có vườn trồng trọt của riêng mình sao? Hãy đến các thuộc địa khai hoang.

Khai khẩn được bao nhiêu đất, bạn sẽ có bấy nhiêu đất."

Đây là điều mà chính phủ Sa hoàng không làm được. Mặc dù trong nước có rất nhiều đất hoang có thể khai khẩn, nhưng những vùng đất này đều đã có chủ.

Diện tích đất mà nông dân có được thông qua chuộc lại trung bình còn thấp hơn cả ở Áo. Tất nhiên, đây là tính cả bán đảo Balkans, vì Romania và Serbia đã đóng góp không ít đất canh tác.

Cuộc cải cách của Alexander II chỉ giúp 13% nông nô có đủ đất; 42% nông nô có được đất, nhưng sau khi trả tiền chuộc thì chỉ có thể sống tạm; số còn lại hoàn toàn không thể nuôi sống bản thân bằng đất đai và phải đi làm thuê.

Điều này cung cấp đủ lực lượng lao động cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga.

Trong lịch sử, theo sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, một bộ phận người dân nông thôn tràn vào thành phố, và vấn đề đất đai vốn căng thẳng mới dần được giải quyết.

Vào cuối thế kỹ 19, đế quốc Nga đã trở nên cường thịnh trở lại nhờ cuộc cải cách của Alexander II.

Nhưng bây giờ thật không may, kinh tế tư bản chủ nghĩa của Nga mới chỉ bắt đầu và chưa có khả năng thu hút quá nhiều nhân khẩu.

Những lợi ích xã hội mà cuộc cải cách mang lại chưa kịp phát huy tác dụng; nhưng những mâu thuẫn xã hội mà cuộc cải cách mang lại đã bắt đầu phát huy tác dụng.

"Hãy theo dõi sát sao tình hình ở Nga, làm rõ các phe phái và lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng can thiệp. Chúng ta không thể để xảy ra biến cố lớn ở Nga."

Franz quyết đoán đưa ra quyết định. Có thể để người Nga chịu một chút thiệt hại, nhưng việc lật đổ đế quốc Nga thì không nên!

Trừ khi có thể chia cắt đế quốc Nga, giải quyết mối đe dọa một lần cho xong, nếu không thì vẫn nên duy trì chính phủ Sa hoàng.

Dù sao, sự thống trị của chính phủ Sa hoàng đối với Nga có hạn chế đối với Áo. Trong nước có quá nhiều người cản trở, ngay cả Alexander II tài giỏi cũng không thể thay đổi được vấn đề này.

Nếu phá vỡ quy tắc thì sẽ khác. Franz có thể lợi dụng cơ hội nội loạn để thanh trừng Hungary, thống nhất Áo. Ai có thể đảm bảo Nga sẽ không xuất hiện một nhân vật lợi hại lật ngược thế cờ?

Ít nhất Alexander II có khả năng đó. Trong phạm vi quy tắc, ông không có cách nào giải quyết triệt để vấn đề.

Nhưng một khi trật tự bị phá vỡ, tình hình sẽ khác. Di sản lớn nhất mà Nicholas I để lại cho ông là quân đội trung thành với Sa hoàng.

Chỉ cần nắm chắc quân đội, rất nhiều vấn đề thực tế không phải là vấn đề. Chỉ cần lật ngược bàn cờ, Alexander II có khả năng rất lớn sẽ khôi phục lại cơ đồ.

Nếu là quốc gia khác, còn có thể thành lập liên quân để can thiệp. Nhưng đụng phải Nga thì Franz nói rằng ông sợ lạnh.

Nếu một nước Nga được tái sinh từ tro tàn xuất hiện, thì Áo không cần phải làm gì cả, chỉ cần chuyên tâm làm người gác cổng châu Âu, phụ trách canh chừng con gấu xù là được.

Thủ tướng Felix phản đối: "Bệ hạ, chúng ta không nên hành động thiếu suy nghĩ vào lúc này. Mặc dù cuộc cải cách của Alexander II gây tổn hại đến lợi ích của rất nhiều người, nhưng nó vẫn chưa vượt qua giới hạn cuối cùng của phe bảo thủ.

Chỉ cần những người này không hành động, Nga sẽ không loạn lên được. Quân Nga thất bại ở Ba Lan chủ yếu là do có quá nhiều binh lính người Ba Lan.

Để đảm bảo sự ổn định của vùng Ba Lan, chính phủ Sa hoàng đã ra lệnh tuyển quân từ vùng Ba Lan, với ý định điều những người này ra khỏi vùng Ba Lan. Nhưng kế hoạch vừa bắt đầu thì cuộc khởi nghĩa đã nổ ra.

Quân đội Nga vẫn trung thành với Sa hoàng, đảng cách mạng chưa ảnh hưởng đến quân đội, cuộc nổi loạn nhỏ này không làm lay chuyển được nền tảng của chính phủ Sa hoàng.

Chỉ cần Anh và Pháp không tự mình xuất binh can thiệp, thì không bao lâu nữa, cuộc nổi loạn sẽ bị dập tắt."

Nghe thủ tướng giải thích, Franz thở phào nhẹ nhõm. Ông là người trong cuộc nên bị mơ hồ, không để ý đến việc Anh và Pháp sẽ không đích thân ra tay.

Sau khi thua cuộc Chiến tranh Crimea, người Anh trở nên thận trọng hơn nhiều trong các vấn đề châu Âu, cố gắng giữ mình ở bên ngoài.

Người Pháp thì càng không cần phải nói. Napoléon III suýt chút nữa đã mất ngai vàng, lại bảo ông ta đến vũng nước đục của người Nga, làm sao có thể?

Vương quốc Phổ bị bỏ qua hoàn toàn. Đừng nhìn đời sau họ được thổi phồng thế nào, bây giờ chỉ cần người Nga hắt hơi một cái, chính phủ Berlin cũng phải run sợ trong lòng.

Lựa chọn tốt nhất của Áo bây giờ là xem kịch vui, chứ không phải chuẩn bị can thiệp. Bất kỳ hành động nào của chính phủ Vienna cũng có thể phát ra một tín hiệu sai lầm, từ đó tạo thành một cục diện không thể cứu vãn.

Franz suy nghĩ một lúc rồi nói: "Thủ tướng nói không sai, là ta quá khẩn trương. Bây giờ một động không bằng một tĩnh.

Bộ Ngoại giao hãy nói với chính phủ Sa hoàng rằng chúng ta ủng hộ mọi hành động của họ trong vấn đề Ba Lan. Chuyện người tình nguyện thì đổ cho Anh và Pháp.

Những chuyện khác không liên quan đến chúng ta, cái gì cũng không biết.”

Nếu chọn cách lấy tĩnh chế động, thì cứ giả vờ ngốc nghếch là được.

Anh và Pháp có thể đứng ra lôi kéo thù hận vì họ ở đủ xa người Nga, không sợ chính phủ Sa hoàng trả thù.

Có thể đánh người Nga thì tốt nhất, không đánh được thì cũng có thể chọc tức người Nga một phen, lợi dụng phong trào độc lập Ba Lan để trì hoãn tiến trình cải cách của chính phủ Sa hoàng.

Sự việc có thực sự đơn giản như vậy không? Đến nay, tình hình quốc tế đã thay đổi hoàn toàn, Franz cảm thấy lợi thế tiên tri của mình không còn tồn tại.

Điều chỉnh lại suy nghĩ, Franz nhanh chóng thông suốt.

Áo không còn là Áo trong lịch sử nữa. Giai đoạn đầu đã tích lũy đủ lợi thế. Ngay cả khi không có lợi thế tiên tri, Áo vẫn ở vị thế có lợi trong cạnh tranh quốc tế.

Việc quá lo lắng về những thay đổi ở đế quốc Nga thực chất là do Franz không đủ tự tin. Dù sao thì những quan niệm từ kiếp trước đã ảnh hưởng quá lớn, khiến ông không để ý đến những thay đổi trong thực lực của bản thân.

So với bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào, Áo đều có một hoặc nhiều lợi thế trong các lĩnh vực. Chỉ cần phát huy những lợi thế này là đủ.

Đầu tiên là về chất lượng dân số. Việc mở ra giáo dục bắt buộc trước một bước đã giúp Áo được hưởng những lợi ích này.

Một khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu, lợi thế tiên cơ đã được định sẵn. Đến khi các đối thủ cạnh tranh kịp phần ứng, Áo đã chạy lên hàng đầu.

Trên thực tế, Áo hiện tại cũng không hề tụt hậu, đang theo sát bước chân của người Anh, và trong một số ngành nghề còn có thể chạy lên phía trước.

Ngược lại, các đế quốc với lãi suất cao đã bắt đầu có dấu hiệu đi chệch hướng. Nguồn cung than đá trong nước không đủ đã làm tăng chi phí của nhiều ngành nghề ở Pháp, và các nhà tư bản ngày càng thích kiếm lợi từ tài chính.

Trong ngắn hạn, các đối thủ cạnh tranh là Anh và Pháp bị hạn chế bởi số lượng dân số và diện tích lãnh thổ, và giới hạn phát triển đã bị phong tỏa.

Những hạn chế về diện tích lãnh thổ và tài nguyên có thể được bù đắp bằng các thuộc địa. Mọi người đều là đế quốc thực dân và không thiếu những tài nguyên này, nhưng việc không đủ dân số thì không có cách nào giải quyết.

Không đúng, người Pháp đang nghĩ cách giải quyết, đó là mở rộng ra bên ngoài. Napoléon III vừa nuốt chủng vương quốc Sardinia để bù đắp cho sự thiếu hụt lao động trong nước.

Người Anh mới là thực sự hết cách. Bốn bề là biển, muốn mở rộng thì phải lên lục địa. Đáng tiếc là John Bull không dám. Một khi bước lên lục địa châu Âu, họ sẽ ngay lập tức bị dạy cho một bài học.

Đối thủ cạnh tranh trung hạn là đế quốc Nga vẫn đang trong quá trình cải cách. Về công nghiệp, họ đã tụt hậu ít nhất hai mươi năm, và đây không phải là điều có thể bù đắp trong một sớm một chiều.

Ngay cả khi có hack, cũng phải mất vài chục năm mới đuổi kịp. Trong thời đại thay đổi từng ngày của những biến đổi kỹ thuật này, đối thủ không thể chờ đợi họ đuổi theo.

Chỉ cần vẫn còn dưới sự thống trị của chính phủ Sa hoàng, thì sự phát triển theo kiểu hack này sẽ không thể xảy ra. Có thể đảm bảo tốc độ phát triển ở mức bình thường thì đã là thượng đế phù hộ rồi.

Đối thủ cạnh tranh dài hạn là người Mỹ, sau khi trải qua cuộc nội chiến này, thời gian phát triển ước tính sẽ bị kéo lùi lại hai ba mươi năm. Ít nhất họ phải đợi đến khi hoàn thành việc thống nhất đất nước một lần nữa mới có khả năng tranh bá thế giới.

Những lợi thế này chỉ có thể coi là bề ngoài. Lợi thế thực sự là các đối thủ cạnh tranh vẫn chưa nhận ra những điểm yếu của bản thân, và chưa có biện pháp giải quyết những vấn đề này.