Cung điện Hofburg, Vienna
Ngoại trưởng Wesenberg cười tủm tỉm nói: "Bẩm Bệ hạ, để tranh thủ sự ủng hộ của chúng ta, cả Nga lẫn Phổ đều đưa ra những điều kiện gần như tương đồng.
Nga hứa hẹn nếu chúng ta ủng hộ họ, sau chiến tranh sẽ được chia sẻ Silesia. Phổ cam kết nếu ta giữ trung lập, họ sẽ cắt nhượng vùng Silesia cho ta sau khi chiến sự kết thúc."
Ông ta nói tiếp: "Lời hứa của Nga là thật tâm, chính phủ Sa hoàng sẵn sàng dùng lợi ích của Phổ để mua chuộc Áo.
Còn cam kết của Berlin, chỉ là bất đắc dĩ. Họ không hề muốn từ bỏ Silesia, nhưng để thắng cuộc chiến này, họ buộc phải ổn định Áo."
"Nếu thắng trận, những gì họ bỏ ra đều có thể thu hồi gấp bội. Còn nếu thua, Silesia căn bản không còn giá trị.”
Dù đã nhiều năm trôi qua, người Áo vẫn luôn canh cánh trong lòng về vùng Silesia. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi thực lực của đế quốc gia tăng, tiếng nói đòi lại Silesia trong chính phủ Vienna ngày càng lớn.
Một khi Vương quốc Phổ suy yếu, Áo chắc chắn sẽ thừa cơ "ném đá giấu tay". Vì vậy, chính phủ Berlin buộc phải tìm cách ổn định Áo trước.
Thấy Felix có vẻ muốn nói gì đó, Franz hỏi: "Thủ tướng nghĩ sao?"
Thủ tướng Felix đáp: "Bệ hạ, cả hai lựa chọn đều không phải là tốt nhất. Điều chúng ta cần là Nga và Phổ lưỡng bại câu thương.
Việc chúng ta liên minh với Nga đã khiến các nước châu Âu khó chịu, họ luôn tìm cách phá vỡ liên minh này. Nếu chính phủ Sa hoàng tiếp tục thắng lợi, những rắc rối chúng ta gặp phải trong tương lai sẽ còn nhiều hơn.
Với chúng ta, Đế quốc Nga hiện đã đủ mạnh. Nếu chính phủ Sa hoàng hoàn thành cải cách nội bộ, liên minh Nga-Áo còn giá trị hay không, rất khó nói.
Tương tự, một Vương quốc Phổ hùng mạnh hơn cũng không phù hợp với lợi ích của chúng ta. Châu Âu quá nhỏ, không thể chứa nhiều cường quốc đến vậy."
"Nga và Phổ lưỡng bại câu thương" là trạng thái lý tưởng nhất. Chúng ta có thể mượn tay Phổ để phá hoại công cuộc cải cách của Alexander II, khiến nó dở dang hơn so với lịch sử. Đồng thời, cũng có thể dập tắt dã tâm của Phổ, khiến họ không còn cơ hội trỗi dậy sau thất bại này.
Nhưng để đạt được điều đó vô cùng khó khăn. Ít nhất Franz không cho rằng Áo có đủ khả năng để chơi trò cân bằng này.
Vương quốc Phổ có thể sụp đổ sau một thất bại, còn Nga thì có về có thể thua nhiều lần. Nhưng thực tế, chính phủ Sa hoàng có quá nhiều vấn để nội bộ, Franz không chắc họ có thể chịu đựng được những tổn thất đến đâu.
Tình hình này khác với Chiến tranh Krym. Khi đó, quân Nga tiến đến cửa ngõ Constantinople, các giai cấp trong nước đều ủng hộ chiến tranh, chính phủ Sa hoàng nhất định phải kiên trì dù tổn thất lớn đến đâu.
Franz suy nghĩ một lúc rồi nói: "Những kế hoạch duy tâm đó không cần thiết, rất dễ phản tác dụng, cuối cùng cả hai bên đều bất mãn.
Dựa trên nhu cầu thực tế, chúng ta chỉ cần đạt được hai điều:
Thứ nhất, lợi dụng người Phổ để phá hoại công cuộc cải cách của chính phủ Sa hoàng. Chỉ cần người Nga không thể giành chiến thắng trong thời gian ngắn, Alexander II sẽ phải nhượng bộ phái bảo thủ, công cuộc cải cách sẽ không thể hoàn thành.
Thứ hai, không để Vương quốc Phổ lớn mạnh. Vùng German chỉ cần một cường quốc là đủ, không cần thêm đối thủ cạnh tranh.
Việc tăng cường sức mạnh cho Phổ, cứ để Anh và Pháp làm. Chúng ta sẽ âm thầm gây khó dễ cho chính phủ Sa hoàng khi cần thiết, củng cố quyết tâm chiến đấu của họ."
"Không thể làm hài lòng cả hai bên. Nếu làm vậy, kết quả cuối cùng có thể là cả hai đều ghét bỏ, trở thành kẻ trong ngoài đều không ưa."
Liên minh Nga-Áo đang suy yếu, nhưng chừng nào minh ước chưa bị hủy bỏ, Áo không thể công khai "đâm sau lưng" Nga.
Điều này ảnh hưởng đến uy tín của Áo trên trường quốc tế. Một quốc gia không có uy tín, vĩnh viễn không thể mong đợi sự tôn trọng của các nước lớn.
May mắn là chính phũ Phổ đủ thông minh, không chơi trò "chiến tranh không tuyên chiến" và không chủ động xâm lược Nga. Nếu không, theo minh ước, Áo cũng sẽ bị đẩy vào cuộc chiến.
Tình hình hiện tại là Vương quốc Phổ xâm lược Đan Mạch, và Nga tuyên chiến với Phổ để bảo vệ "đàn em".
Trong tình huống này, việc Áo tham chiến không nằm trong phạm vi bắt buộc của liên minh Nga-Áo.
Vương quốc Đan Mạch là đồng minh của Nga, không có nghĩa là họ cũng là đồng minh của Áo. Chính phủ Vienna không cần phải đứng chung chiến tuyến với Nga.
Bộ trưởng Tài chính Karl nhắc nhở: "Bệ hạ, tình hình tài chính của chính phủ Sa hoàng rất tệ. Việc người Nga hành động chậm chạp, phần lớn là do hạn chế về tài chính.
Gần đây, chính phủ Sa hoàng phát hành trái phiếu nhưng không được thị trường tư bản đón nhận. Các nhà đầu tư lo ngại Nga sẽ vỡ nợ.
Theo phân tích từ các tài liệu chúng ta có, nếu tình hình tài chính của Nga không được cải thiện, chính phủ Sa hoàng có thể sẽ tuyên bố phá sản."
Trong liên minh Nga-Áo có quy định: Trong điều kiện không gây tổn hại đến lợi ích của mình, các bên có nghĩa vụ cung cấp viện trợ vật chất cho đồng minh.
Về lý thuyết, trong tình huống này, chính phủ Vienna phải giúp đỡ Nga. Nhưng cách thức hỗ trợ như thế nào, sẽ phải xem xét tình hình thực tế.
Cung cấp khoản vay là viện trợ, quyên tặng vật phẩm cũng là viện trợ, tình hình cụ thể vẫn phải dựa trên lợi ích.
Nếu không có đủ lợi ích, chỉ cần lấy một ít vũ khí, đạn dược từ kho là đủ để đối phó.
Thái độ của Bộ trưởng Tài chính rất rõ ràng: Tình hình tài chính của chính phủ Sa hoàng rất tồi tệ, và họ có thể phá sản sau cuộc chiến. Áo không cần phải nhảy vào cái hố này.
Phá sản tài chính không phải là chuyện mới mẻ ở châu Âu. Đặc biệt là chính phủ Sa hoàng, một khi nợ nần vượt quá khả năng chi trả, họ sẽ tuyên bố phá sản.
Phá sản có nghĩa là họ tạm ngừng thanh toán các khoản nợ vô thời hạn, hay có thể hiểu là không trả. Chính phủ Sa hoàng đã làm điều này nhiều lần, khiến nhiều chủ nợ "khóc không ra nước mắt".
Tất nhiên, không phải quốc gia nào cũng có quyền "xù nợ". Trong thời đại này, vẫn có một cách thu hồi nợ - dùng vũ lực.
Các nước nhỏ có thể tuyên bố phá sản và chỉ "xù” các khoản nợ cá nhân. Còn các cường quốc vẫn phải trả nợ, ví dụ như chịu sự giám sát tài chính của các cường quốc khác.
Mexico là một ví dụ điển hình. Không có thực lực nhưng lại dám "xù nợ". Năm 1862, Tổng thống Juárez tuyên bố tạm ngừng thanh toán nợ, và chủ nợ Pháp đã kéo quân đến tận cửa.
Cách này không hiệu quả với Nga. Không chủ nợ nào có khả năng kéo quân đến St. Petersburg để đòi tiền. Sau nhiều lần "xù nợ", không ai cho Sa hoàng vay tiền nữa.
Franz ngạc nhiên hỏi: "Tình hình tài chính của Nga đã trở nên tệ đến mức này sao?"
Trong ký ức của ông, tình hình tài chính của chính phủ Sa hoàng tuy tệ, nhưng chưa đến mức sụp đổ. Ngay cả khi đánh một trận chiến với Phổ, cũng không đến mức phá sản ngay lập tức.
Bộ trưởng Tài chính Karl giải thích: "Bẩm Bệ hạ, từ thời cận đại, các quốc gia châu Âu thường cố gắng trả nợ, rất ít khi 'xù nợ.. Nga là một ngoại lệ.
Dựa trên kinh nghiệm trước đây, khi nợ nần của chính phủ Sa hoàng đạt đến một mức nhất định, họ sẽ tuyên bố phá sản. Gần đây, chúng ta thu thập được thông tin tình báo rằng chính phủ Sa hoàng đã chuẩn bị sẵn một dự án phá sản."
Franz cạn lời. Thực tế, các quốc vương thời Trung Cổ thường xuyên tuyên bố phá sản và "xù nợ", cứ vài chục năm lại xảy ra một lần.
Nhiều nhà tư bản đã "khóc ròng", đặc biệt là các nhà tư bản Do Thái. Nguyên nhân là vì họ quá giàu, phần lớn tiền đều tập trung trong tay họ. Không vay họ thì vay ai?
Tất nhiên, nhiều quốc vương cũng bị "hố". Tư bản Do Thái bị ghét bỏ vì họ thường "gài bẫy" trong hợp đồng vay tiền, khiến các quốc vương phải trả thêm nhiều lãi suất.
Sự thật chứng minh, không nên đụng vào những người cai trị, đặc biệt là trong chế độ quân chủ. Kẻ nào dám lừa tiền của họ, đều phải trả giá đắt. Các phong trào bài Do Thái ở châu Âu phần lớn đều bắt nguồn từ đó.
Bước vào thời cận đại, sức mạnh của tư bản ngày càng lớn mạnh. Các chính phủ ít khi "xù nợ" bằng cách tuyên bố phá sản, đặc biệt là các khoản vay quốc tế có sự bảo trợ của các cường quốc.
Việc cùng nhau "xù nợ" là chuyện bình thường. Nhưng nếu mọi người bắt đầu tuân thủ luật lệ, mà chỉ có một mình bạn "xù nợ", thì bạn sẽ trở nên lạc lõng.
Các chủ nợ sẽ lan truyền thông tin, và uy tín của chính phủ Sa hoàng sẽ tan thành mây khói. Không có uy tín, nhiều việc sẽ trở nên khó khăn. Đó là lý do người Nga sử dụng cả đồng vàng và đồng bạc, rơi vào tình thế khó xử.
Franz suy nghĩ một lúc rồi nói: "Vậy chúng ta cũng nên thắt chặt tín dụng, nhắc nhở giới tài chính trong nước tăng cường cảnh giác.
Viện trợ cho Nga bằng hiện vật là chính. Tất cả các khoản vay lớn cho Nga, đều phải có tài sản thế chấp.”
Đây là "ném đá xuống giếng". Những điều kiện hạn chế này chắc chắn sẽ làm tăng độ khó huy động vốn của chính phủ Sa hoàng trên thị trường tư bản Áo. Nhưng chỉ cần chính phủ Sa hoàng không "xù nợ", thì việc thế chấp nhiều tài sản hơn cũng không sao.
Có tài sản thế chấp, ngay cả khi người Nga tuyên bố phá sản, họ cũng không thể "xù" các khoản nợ này. Vì giá trị tài sản thế chấp thường cao hơn giá trị khoản vay.
Franz buộc phải trở nên thận trọng. Gần đây, chính phủ Sa hoàng đã thế chấp Alaska để vay 2,57 triệu Thaler, và còn nợ một ân tình. Nếu không thực sự không thể chịu nổi, người Nga sẽ không làm như vậy.
...
Trong khi Áo lo lắng về việc Nga phá sản, chính phủ London cũng đối mặt với vấn đề tương tự. Là quốc gia "cuồng binh" nhất ở châu Âu, Vương quốc Phổ không phải là một nhân vật giàu có.
Cho vay chính phủ Berlin hiện tại, rủi ro không thấp hơn so với cho vay Nga. Việc phát hành trái phiếu chiến tranh của chính phủ Berlin, không được thị trường chứng khoán London đón nhận.
Nếu Vương quốc Phổ thắng, họ có thể trả nợ. Nhưng nếu thua, hoặc lưỡng bại câu thương, các khoản đầu tư này sẽ "đổ sông đổ biển".
Không nhiều người tin vào Phổ, nên mọi người không muốn mạo hiểm. Mặc dù lãi suất trái phiếu đã tăng lên 15,8%/năm, nhưng doanh số bán hàng vẫn không mấy khả quan.
Là "ông bầu" của Vương quốc Phổ, chính phủ London không thể để tình trạng này xảy ra. Không có tiền, Vương quốc Phổ lấy gì để đánh cuộc chiến này?
Bộ trưởng Tài chính Agarwal nói: "Chúng ta đã giúp người Phổ phát hành trái phiếu chiến tranh, nhưng đến nay chỉ bán được 186.900 bảng Anh, còn kém xa so với mục tiêu 15 triệu.
Dân chúng không tin họ có thể thắng cuộc chiến này. Trừ khi có ai đó bảo đảm, nếu không không thể bán được trái phiếu."
"Tình hình tài chính của Vương quốc Phổ rất tệ. Từ năm 1848 đến nay, họ luôn trong tình trạng thâm hụt.
Nhiều tổ chức tài chính trong nước tin rằng tình hình tài chính của Phổ đang trên bờ vực phá sản, và từ chối cho họ vay tiền."
Làm "ông bầu" không dễ dàng, phải bỏ vốn thật. Chiến tranh Nga-Phổ chắc chắn sẽ tốn một khoản tiền khổng lồ, và khả năng mất vốn là rất lớn.
Thủ tướng John Russell xoa trán nói: "Vậy, khoản viện trợ chúng ta cam kết cho Vương quốc Phổ, trong hai tháng qua, chưa gom đủ một phần năm?"
Theo thỏa thuận, người Anh phải cung cấp cho Vương quốc Phổ khoản vay 10 triệu bảng Anh, cộng với việc phát hành 15 triệu bảng Anh trái phiếu chiến tranh.
Tình hình thực tế là, ngoài khoản trả trước 5 triệu bảng Anh của chính phủ London, không ai hỏi thăm trên thị trường tư bản.
Đây là di chứng của Chiến tranh Krym. Anh và Pháp còn không đánh thắng được Nga, huống chi là Vương quốc Phổ?
Ngay cả chính phủ London cũng không tin rằng Vương quốc Phổ có thể thắng cuộc chiến này. Việc ủng hộ họ, chỉ là để phá hoại công cuộc cải cách của Nga, chứ không phải là trông chờ vào việc Vương quốc Phổ có thể giành chiến thắng.
"Đúng vậy, thưa ngài Thủ tướng. Mọi người không tin vào Phổ, nên họ khá thận trọng khi đầu tư," Bộ trưởng Tài chính Agarwal đáp.
Việc ủng hộ Vương quốc Phổ đánh Nga, người dân Anh rất ủng hộ. Nhưng khi phải trả tiền, thì lại khác.
Một số tờ báo ở London đang dự đoán về thời điểm Vương quốc Phổ thất bại.
Dự đoán lạc quan nhất cho rằng Vương quốc Phổ có thể cầm cự được một năm rồi thua trận. Dự đoán bi quan nhất cho rằng chính phủ Berlin sẽ đầu hàng trong vòng một tháng.
Mọi người đều cho rằng Vương quốc Phổ chỉ có thể thắng cuộc chiến này nếu Anh và Pháp tự mình tham chiến. Nếu không, thất bại chỉ là vấn đề thời gian.
