Logo
Chương 120: Thời đại hắc ám

Ai có thể ngờ rằng, trong các nhà xưởng của giới tư bản lại tồn tại những đứa trẻ ba, bốn tuổi làm công? Không phải một, hai trường hợp cá biệt, mà là hàng trăm, hàng ngàn em nhỏ đang bị bóc lột.

Tuổi thọ của những lao động trẻ em này thường không quá hai mươi. Việc phải làm việc quá sớm trong những nhà máy tăm tối, thiếu ánh sáng mặt trời sẽ tàn phá nghiêm trọng cơ thể non nớt của chúng.

Nước Anh là quốc gia điên cuồng nhất trong vấn đề này. Là cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp, nhưng ba hòn đảo của England lại có nguồn nhân lực hạn chế. Để giảm chi phí, giới tư bản đã nhắm đến phụ nữ và trẻ em.

Tiền lương của một nam công nhân trưởng thành có thể thuê được hai nữ công nhân, hoặc ba đến bảy lao động trẻ em. Tuổi càng nhỏ, chi phí tiền lương càng thấp.

So với người trưởng thành, lao động trẻ em dễ quản lý hơn, việc trấn áp đình công cũng đơn giản hơn. Tại những nhà máy không đòi hỏi cường độ lao động quá lớn, số lượng lao động trẻ em chiếm đa số.

Nguồn gốc của những lao động trẻ em này rất phức tạp. Một phần là do dân chúng nghèo khổ bị ép buộc, phải đưa con vào nhà máy. Phần khác là từ các giao dịch trên thị trường.

Đúng vậy, lao động trẻ em lúc này cũng là một loại hàng hóa. Các viện mồ côi, nhà thờ, tổ chức cứu tế và bọn buôn người là những người bán lớn nhất. Ngoài ra, cũng có một số ít trường hợp trẻ bị chính cha mẹ bán đi.

Nhà máy đẫm máu chính là bức tranh khắc họa chân thực nhất về xã hội thời đại này.

Một mặt, giới tư bản điên cuồng bóc lột lao động trẻ em để kiếm lợi nhuận khổng lồ. Mặt khác, họ lại tạo dựng hình ảnh quý ông hào phóng, quyên góp tiền cho nhà thờ, đầu tư vào giáo dục, tài trợ cho học sinh nghèo khó.

Franz thậm chí chẳng buồn nguyền rủa. Dù sao, anh không tin giới tư bản lại tốt bụng đến vậy. Chỉ cần nhìn vào những gian lận trong các trường tư thục kia là đủ hiểu.

Tính ưu việt của thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa chỉ có ở tương lai. Hệ thống tư bản chủ nghĩa ở thời đại này bóc lột còn thậm tệ hơn cả giới quý tộc phong kiến.

Kể từ khi Áo ban hành "Luật Lương Tối Thiểu", sự quan tâm của giới tư bản Áo đối với lao động trẻ em đã giảm mạnh. Điều này cũng liên quan đến tình hình quốc gia.

Công nghiệp hóa ở Áo mới bắt đầu, nhu cầu về lao động không quá lớn, trong khi dân số lao động lại dồi dào.

Sau khi áp dụng "Luật Lương Tối Thiểu", giới tư bản phát hiện chi phí trả cho lao động trẻ em tăng lên đáng kể, không còn thấp hơn nhiều so với người trưởng thành. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của việc thuê lao động trẻ em.

Đặc biệt là sau khi chính phủ bắt giữ một vài trường hợp điển hình và phạt phá sản, mọi người đều nhớ rằng Áo còn có một bộ "Luật Lương Tối Thiểu".

Thủ tướng Felix nói đùa: "Bệ hạ, kể từ khi chúng ta áp dụng Luật Lương Tối Thiểu', số lượng trẻ em vô gia cư trong nước đã tăng lên chóng mặt. Bây giờ, chính phủ đã trở thành nhà trẻ lớn nhất thế giới.

Theo số liệu thống kê của chúng ta, đến ba ngày trước, chúng ta đã tiếp nhận tổng cộng 386.000 trẻ em, và con số này vẫn tiếp tục tăng.

Giới tư bản dường như đang chuẩn bị từ bỏ việc sử dụng lao động trẻ em. Bây giờ, chúng ta cần phải thay họ thu dọn mớ hỗn độn này."

Bề ngoài, việc tiếp nhận nhiều trẻ mồ côi như vậy là một gánh nặng cho chính phủ. Nhưng thực tế, về mặt chính trị, đây là một điểm cộng rất lớn.

Ở nước Áo cổ kính, giới quý tộc chịu ảnh hưởng lớn từ tinh thần hiệp sĩ. Họ sẵn sàng thương xót kẻ yếu, miễn là không ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân.

Bây giờ, chính phủ Áo đứng ra cưu mang những đứa trẻ lang thang này, chiếm được điểm cao về mặt đạo đức trong dư luận, đồng thời có thể lên án những nhà tư bản thâm hiểm.

Việc chỉ trích những nhà tư bản đen tối ở Áo cũng là một cách thể hiện sự đúng đắn về mặt chính trị. Trong quá trình cách mạng công nghiệp, giai cấp tư sản sẽ nhanh chóng lớn mạnh.

Chính phủ Áo hiện tại đang dựa vào giai cấp quý tộc để áp chế giai cấp tư sản. Nhưng trong tương lai, chưa chắc họ có thể tiếp tục áp chế được nữa. Giai cấp tư sản khi đã lớn mạnh về thực lực, sớm muộn gì cũng sẽ vươn tay vào chính trị.

Vì vậy, việc chuẩn bị trước để hạn chế giai cấp tư sản là vô cùng cần thiết.

Ngược lại, việc truyền thông tiết lộ những sự thật trần trụi của xã hội là bản chất công việc của họ.

Càng có nhiều "tài liệu đen", danh tiếng của giới tư bản càng thối, điều này càng có lợi cho chính phủ Áo. Nếu giai cấp tư sản dám làm loạn trong tương lai, Franz không ngại cho họ nếm thử "Panzerfaust chuyên chính của nhân dân Áo" là gì.

Franz suy nghĩ một lát rồi nói: "Vấn đề này giao cho Bộ Giáo dục. Bá tước Hohen hãy sớm chiêu mộ đủ giáo viên, trước mắt đưa những đứa trẻ vô gia cư này vào học chương trình giáo dục bắt buộc.

Chính phủ thành lập các viện mồ côi ở các thành phố lớn, đặc biệt tiếp nhận trẻ em vô gia cư. Những gia đình nghèo khó không đủ khả năng nuôi con cũng có thể gửi đến."

Anh chỉ có thể làm được đến vậy. Sau khi hoàn thành giáo dục bắt buộc, ngoại trừ một phần trăm thiên tài có thể vào trung học để tiếp tục học sâu hơn, những đứa trẻ này sẽ phải bước vào xã hội.

Thực tế rất tàn khốc. Ngay cả khi hoàn thành giáo dục bắt buộc, những đứa trẻ này cũng chỉ mới mười hai, mười ba tuổi. Nếu nhìn từ tương lai, đây chính là lạm dụng lao động trẻ em.

Đáng tiếc, đây là thời kỳ đầu của cuộc cách mạng công nghiệp. "Quạ đen" trên toàn thế giới đều đen như nhau. Để tích lũy tư bản ban đầu, không còn cách nào khác. So với việc phải vào nhà máy từ khi ba, bốn tuổi, đây đã là một bước tiến lớn.

...

Điều quan trọng nhất của bất kỳ đạo luật nào là thi hành. Giáo dục bắt buộc đã trở thành quốc sách hàng đầu của chính phủ Áo. Vì vậy, việc trừng trị các nhà tư bản sử dụng lao động trẻ em là một lựa chọn tất yếu.

Cấm sử dụng lao động trẻ em? Đây là điều không thể. Không chỉ giới tư bản không chấp nhận nổi, mà tầng lớp dân nghèo cũng không chịu được.

Thời này, trẻ con rất nhiều. Các gia đình thường dân có năm, sáu con là chuyện phổ biến, thậm chí có những gia đình có đến mười mấy đứa. Họ làm sao nuôi nổi?

Nếu không phải Franz hiểu rõ hiện trạng xã hội, để chính phủ gánh chịu toàn bộ chỉ phí giáo dục bắt buộc, rồi mù quáng ban hành một bộ luật giáo dục bắt buộc, thì cuối cùng, rất có thể lại là một bi kịch nhân gian.

Vienna

Là trung tâm của Áo, đồng thời là nơi khởi nguồn của "Luật Bảo Vệ Lao Động", "Luật Lương Tối Thiểu" cũng bắt đầu từ đây và được phổ biến rộng rãi.

Sau khi cuộc nổi loạn ở Hungary bị dập tắt, đế quốc Áo trở nên thái bình. Chính phủ bãi bỏ thuế quan địa phương, xóa bỏ chế độ nông nô, mở rộng thị trường nông thôn, nghề buôn bán ở Vienna bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

Nhìn số lượng đơn đặt hàng tăng lên mỗi ngày, Daniel không cảm thấy vui mừng, mà ngược lại, vô cùng khó chịu. Là chủ một xưởng dệt thủy lực, ông chính là người chịu thiệt hại lớn nhất từ "Luật Lương Tối Thiểu".

Cường độ lao động trong nhà máy dệt không cao. Sau khi sử dụng máy móc, yêu cầu về thể lực và kỹ năng cũng giảm xuống. Chỉ cần làm tốt việc nối sợi là được.

Để giảm chi phí nhân công, Daniel đã học theo kinh nghiệm thành công của các đồng nghiệp ở Anh, công khai thuê phụ nữ và trẻ em giá rẻ vào nhà máy.

Nhưng bây giờ thì không được nữa. Luật Lương Tối Thiểu vừa ra đời, lao động trẻ em ở Áo không còn rẻ nữa.

Mặc dù chi phí nhân công ở thời đại này còn thấp, ngay cả khi tăng chi phí nhân công, họ vẫn có lợi nhuận dồi dào. Nhưng những nhà tư bản tham lam sao có thể thỏa mãn?

Daniel không dám trực tiếp phạm pháp. Những tấm gương nhãn tiền vẫn còn đó. Một trong những đối thủ cạnh tranh của ông đã bị chính phủ Vienna phạt đến phá sản vì không tuân thủ luật bảo vệ lao động.

Nhìn người quản đốc mà ông đã tốn "lương cao” để mời về, Daniel hỏi: "Wesson, anh có cách nào giảm chỉ phí nhân công cho tôi không?”

"Thưa ông chủ, hay là chúng ta áp dụng chế độ khoán sản phẩm? Lập ra một mức sản lượng mà công nhân không làm được, đến lúc đó trừ lương của họ?" Wesson hiểm độc đề nghị.

Daniel lắc đầu nói: "Không có ích gì đâu. Tôi đã hỏi ý kiến luật sư rồi. Tiêu chuẩn tham khảo của chính phủ là do quốc doanh lập ra. Nếu chế độ khoán sản phẩm vượt quá tiêu chuẩn này, chúng ta không có quyền trừ lương.

Ngay cả khi ký hợp đồng cũng vô dụng. Chính phủ Vienna sẽ coi đó là hợp đồng vô hiệu, và chúng ta sẽ phải đối mặt với ít nhất một ngàn vụ kiện, kèm theo khoản tiền phạt khổng lồ."

Kể từ khi cuộc cách mạng tháng Ba bùng nổ, chính phủ Vienna không còn hòa nhã với giới tư bản nữa. Tình bạn ngày xưa không còn bất kỳ tác dụng nào.

Đến bây giờ, Daniel nói chuyện cũng trở nên cẩn trọng. Nếu gặp phải chuyện như vậy trước đây, ông đã sớm cùng đồng nghiệp cấu kết gây rối. Nhưng bây giờ thì ông không dám.

Nếu bị chính phủ Vienna coi là âm mưu tạo phản, ngay lập tức sẽ mất mạng. Cuộc thanh trừng lớn ở Vienna vài tháng trước, đến nay ông vẫn còn nhớ như in.

Nếu không phải ông may mắn bị ốm trong thời gian đó, không tham gia các buổi tụ tập của giới tư bản, thì bây giờ ông đã không thể tiếp tục làm việc ở đây.

Tư bản không có biên giới, đó là chuyện của tương lai. Ở thời đại này, giới tư bản không dám tùy tiện di chuyển. Không có chỗ dựa đến một nơi xa lạ, coi chừng bị nuốt chửng đến không còn một cọng lông.

Mặc dù vô cùng bất mãn với chính phủ Áo, Daniel vẫn tiếp tục làm ăn ở Vienna. Lợi nhuận ít đi một chút cũng không sao, mạo hiểm thì thôi vậy.

So sánh mà nói, chỉ phí nhân công ở Áo vẫn còn hài hòa hơn so với các nước Tây Âu như Anh, Pháp. Dù sao, Áo là nước xuất khẩu lương thực, giá cả sinh hoạt thấp hơn, lại không thiếu lao động.

Mức lương trung bình cao nhất thế giới tư bản là ở London, cao hơn Vienna từ một phần ba đến một phần hai. Đó là sau khi Áo có luật bảo vệ lao động.

Trên có chính sách, dưới có đối sách.

Daniel vẫn nghĩ ra những cách để giảm chi phí nhân công, ví dụ như: Cắt giảm tiền làm thêm giờ, trừ thời gian công nhân đi vệ sinh, trừ thời gian máy móc ngừng hoạt động.

Đây đều là những thao tác thường quy. Cao tay hơn, còn có những nhà tư bản xây nhà vệ sinh miễn phí ở cách nhà máy vài cây số, nhưng lại xây nhà vệ sinh thu phí bên trong nhà máy.

Thậm chí, có những nhà tư bản còn dùng vải vóc kém chất lượng để may đồng phục, sau đó bán với giá cao cho công nhân.

Có đồng phục giá cao, tất nhiên cũng không thiếu đồ ăn giá cao. Các nhà tư bản cấm công nhân mang đồ ăn vào nhà máy, sau đó chào bán thực phẩm giá cao để kiếm lời.

...

Tóm lại, chỉ cần không nghĩ đến chứ không có chuyện gì không làm được. Để cắt giảm chi phí nhân công, giới tư bản đã vắt kiệt óc.