Kể từ khi tuyên chiến với đế quốc Ottoman, Áo bước vào trạng thái chiến tranh. Lượng lớn vật liệu chiến lược theo sông Danube vận chuyển về bán đảo Balkan, hai trăm ngàn quân Áo hùng dũng tiến công.
Bề ngoài, Áo muốn báo thù đế quốc Ottoman. Mối hận giữa hai bên đã kéo dài mấy trăm năm. Nếu không có đế quốc Ottoman gây khó dễ, vương triều Habsburg đã sớm thống nhất nước Đức.
Franz đã đánh lừa cả thế giới. Quân đội và vật liệu chiến lược liên tục đổ vào bán đảo Balkan, khiến ngay cả người Áo cũng tin rằng họ quyết tâm tiêu diệt đế quốc Ottoman.
Chỉ một số ít lãnh đạo cấp cao biết rằng cuộc tấn công vào bán đảo Balkan chỉ là một phần của kế hoạch. Quân đội và vật liệu chiến lược của Áo đang tập trung dọc theo sông Danube, chủ yếu để chuẩn bị cho chiến lược tiến về phía tây, cho phép điều động quân nhanh chóng.
Chẳng phải người Nga cũng cần vật liệu chiến lược vận chuyển đến bán đảo Balkan sao? Dù chính phủ Sa hoàng đã chuẩn bị cho chiến tranh trong hai năm, họ vẫn chưa giải quyết được vấn đề giao thông trong nước.
Ban đầu, chính phủ Sa hoàng định giải quyết vấn đề hậu cần bằng vận tải biển. Họ tập trung vật liệu chiến lược đến các cảng ven biển Ukraine, với hạm đội Biển Đen hộ tống, coi như vạn vô nhất thất.
Nhưng kế hoạch không theo kịp thực tế. Hải quân Anh và Pháp xuất hiện, đường biển bị phong tỏa.
Lúc này, họ cần sự hỗ trợ từ đồng minh. Áo có sông Danube thông suốt, nối thẳng vùng Bulgaria, việc cung cấp hậu cần không gặp nhiều khó khăn.
Có thể nói, sông Danube là món quà trời ban cho Áo. Trước khi đường sắt phát triển, vận tải đường thủy là phương thức đáng tin cậy nhất.
Sông Danube bắt nguồn từ Baden, chảy qua Wuerttemberg, Bavaria rồi vào Áo, đi qua hai công quốc Wallachia và Moldavia trước khi đổ ra biển. Đây là huyết mạch hậu cần cho chiến lược tiến về Nam Đức và xuôi về bán đảo Balkan của Áo.
Dĩ nhiên, đường sắt vẫn có thể được xây dựng. Dù sao, sông Danube không thể bao phủ toàn bộ khu vực. Một tuyến đường sắt xuyên đông tây sẽ thuận tiện hơn.
Vienna
Tại Bộ Tổng tham mưu Áo, báo cáo xin tham chiến từ quân đội chất đống như núi. Quân nhân cần quân công. Chiếm lĩnh hai công quốc dọc sông Danube mà không phải đánh trận nào thì làm sao được thăng quan tiến chức?
Nếu không phải Thống chế Radetzky có uy tín cao, có thể ngăn chặn phái chủ chiến trong quân đội, những báo cáo xin tham chiến hỗn độn này đã chất lên bàn của Franz.
Theo thống kê của Cục Lưu trữ, năm 1852, Bộ Tổng tham mưu nhận được hơn một trăm ngàn báo cáo xin tham chiến, gần như toàn bộ quan binh đều có tên trong đó.
Một sĩ quan chỉ huy trung niên ôm một chồng văn kiện dày cộm, cười khổ nói: "Thống chế, đây là báo cáo xin tham chiến của Sư đoàn 19."
Ông không nhớ đây là lần thứ bao nhiêu mình ôm văn kiện đến đây. Kể từ khi chiến tranh với đế quốc Ottoman bùng nổ, quân đội Áo bắt đầu rục rịch, chuẩn bị lập công lớn.
Bộ Tổng tham mưu mỗi ngày đều nhận được vô số báo cáo xin tham chiến và kế hoạch tác chiến. Tóm lại, mọi người đều rất gấp, như sợ người Nga đánh nhanh quá, không còn cơ hội cho họ thể hiện.
Thống chế Radetzky suy nghĩ một chút rồi nói: "Ném cho phòng hồ sơ đi. Từ bây giờ, không cần mang loại báo cáo này cho ta nữa."
Lúc đầu, ông còn rất vui mừng, quân đội hiếu chiến là một điều tốt! Nhưng theo thời gian, Thống chế Radetzky cũng trở nên chai sạn.
Kể từ khi đễ dàng chiếm lĩnh hai công quốc dọc sông Danube, nhiều người coi cuộc chiến này như một chuyến du hành vũ trang, như thể đế quốc Ottoman chỉ cần chọc nhẹ là vố.
Không chỉ các quan binh tại ngũ động lòng, ngay cả đám công tử bột trong giới quý tộc cũng tìm mọi cách để vào quân đội "mạ vàng".
Lúc này mới muốn gia nhập thì tự nhiên là không thể. Để thực hiện chiến lược tiến về phía tây, giới lãnh đạo Áo cũng canh chừng rất chặt, không cho phép bất kỳ sơ suất nào xảy ra.
"Vâng, Thống chế!" Sĩ quan chỉ huy trung niên đáp.
Sau khi nói xong, sĩ quan chỉ huy trung niên vẫn không rời đi, mà ngược lại có vẻ hơi lo lắng, dường như có điều muốn nói.
Nhận ra điều này, Thống chế Radetzky nghỉ ngờ hỏi: "Thiếu tướng Lafitte, còn có chuyện gì?"
"Thống chế, phía dưới quần tình phẫn nộ, chúng ta sắp không đè nén được nữa." Thiếu tướng Lafitte lo lắng nói.
Thống chế Radetzky nghiêm túc nói: "Có gì mà không đè nén được? Bảo họ cứ chuẩn bị sẵn sàng là được. Khi nào đánh trận không cần họ phải bận tâm.
Nếu ai có ý kiến, lập tức buộc hắn giải ngũ về nhà. Quân đội Áo không dung thứ loại người coi thường kỷ luật!"
"Vâng, Thống chế!" Thiếu tướng Lafitte vội vàng trả lời.
Quân đội Áo không có truyền thống cấp dưới lấn át cấp trên. Những đại sự quốc gia này chưa đến lượt các quan binh cấp dưới làm chủ.
Lúc này, nếu bị buộc giải ngũ về nhà, vậy thì coi như lỡ mất cơ hội tham gia cuộc chiến này. Đối với những người có chí lập công trên chiến trường, đó là một thiệt thòi lớn.
Đè nén những tiếng nói từ bên dưới, Thống chế Radetzky thở dài. Lúc này, cơ hội ngàn năm có một để tiến xuống bán đảo Balkan đang ở trước mắt, nhưng thực tế không cho phép.
Hiện tại, chủ lực quân đội Áo đang hoạt động ở hai công quốc hạ lưu sông Danube. Bề ngoài là để quét sạch các phần tử kháng chiến, thiết lập chính quyền địa phương hiệu quả, nhưng thực tế là để tiện cho việc tập trung quân.
Ngay cả các tàu chiến của hải quân Áo có thể hoạt động trên sông Danube, trước khi chiến tranh nổ ra cũng đã đến Biển Đen chờ lệnh, lúc này đều đang hộ tống trên sông Danube.
Chuẩn bị nhiều như vậy, không thể vì chiếm chút lợi nhỏ ở bán đảo Balkan mà từ bỏ chiến lược tiến về phía tây được?
Quân đội phân tán ra thì dễ, nhưng muốn tập hợp lại thì khó khăn. Chỉ cần một mệnh lệnh, quân đội Áo và Nga liên thủ tấn công, chẳng bao lâu sẽ chiếm được bán đảo Balkan.
Nhưng một khi chiếm được bán đảo Balkan, Áo sẽ bị mắc kẹt ở đó, muốn rút quân ra thì khó.
Cách xa lưu vực sông Danube, không có đường thủy vận chuyển, đợi đến khi tập hợp được mấy trăm ngàn quân, rồi từ bán đảo Balkan vận chuyển đến Nam Đức thì mọi chuyện đã muộn.
Cung Schönbrunn
Eranz ân cần hỏi: "Thưa ngài Stein, việc xây dựng tuyến đường sắt trục chính trong nước tiến triển đến đâu rồi? Khi nào thì có thể hoàn thành?”
Việc xây dựng mạng lưới đường sắt của Áo bắt đầu lại từ năm 1849, đến nay đã ba năm. Một số đoạn đường ở vùng đồng bằng đã thông xe.
Tuy nhiên, so với toàn bộ mạng lưới giao thông, nó vẫn còn quá nhỏ bé. Việc vượt qua dãy Alps, xây dựng đường sắt xuyên núi là một thách thức lớn, dù có thêm ba năm nữa cũng chưa chắc đã hoàn thành.
Đối với đường sắt ở vùng đồi núi, Franz không quá gấp gáp. Điều quan trọng nhất bây giờ là tuyến đường sắt Vienna đi Salzburg, phải được thông xe trước thời hạn.
Không còn cách nào khác, dưới hiệu ứng cánh bướm của ông, cuộc chiến tranh Cận Đông đã bùng nổ sớm hơn một năm so với cuộc chiến tranh Crimea trong lịch sử. Điều này khiến thời gian chuẩn bị cho chiến lược tiến về phía tây bị rút ngắn lại một năm.
Một năm đủ để thay đổi nhiều thứ. Khoảng cách giữa Vienna và Salzburg cũng chỉ hơn hai trăm cây số. Franz không lo lắng về việc xây dựng tuyến đường sắt này trong vòng bốn năm.
Ngay cả khi điều kiện thi công đường sắt khắc nghiệt, và phải mất gần bốn năm để xây dựng, đoạn đường sắt này cũng không cần phải đục hầm Bát Đạt Lĩnh hay bắc cầu Hoài Lai lớn.
Việc thiếu một năm thời hạn công trình sẽ gây khó khăn. Vì lý do bảo mật, Franz không thể hỏi cụ thể về đoạn đường sắt này. Nếu gây sự chú ý, sẽ rất phiền phức. Bây giờ, ông chỉ có thể thúc đẩy tiến độ của toàn bộ tuyến đường sắt trục chính trên cả nước.
Theo kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu, một khi chiến lược tiến về phía tây được triển khai, quân đội Áo sẽ tấn công theo ba hướng. Một hướng dọc theo sông Danube, một hướng từ Salzburg tiến thẳng đến Munich bằng đường bộ, và một hướng dọc theo sông Rhine tiến vào Bavaria.
Phải nói rằng hệ thống sông ngòi phát triển là một lợi thế lớn. Ngay cả khi từ Salzburg tiến vào Bavaria, vẫn còn có một con sông Saar kết nối với sông Rhine.
Vào thời điểm này, người Bavaria vẫn chưa xây dựng kênh đào nối sông Rhine và sông Danube, nếu không, việc điều động vật liệu từ Vienna cho cuộc chiến thống nhất Nam Đức lần này đã trở nên dễ dàng hơn nhiều.
Hiện tại, họ đang tăng cường một điểm cung cấp hậu cần ở Salzburg. Vì vậy, việc thông xe tuyến đường sắt giữa Vienna và Salzburg trước khi chiến tranh bùng nổ là vô cùng quan trọng.
Bộ trưởng Đường sắt Stein trình cho Franz một bản báo cáo, nói: "Bệ hạ, đây là bảng kế hoạch tiến độ thi công đường sắt và biểu dự đoán thời gian thông xe, xin mời xem qua.
Hiện tại, các công ty đường sắt lớn trong nước cũng đang tăng tốc độ thi công. Toàn bộ tuyến đường chính sẽ cần ít nhất hai năm nữa để hoàn thành. Trong đó, một phần ba đoạn đường có thể thông xe trong năm nay, một số đoạn đường sắt ở vùng đồi núi có thể phải dời ngày thông xe đến năm 1856."
Franz gật đầu. Tốc độ xây dựng đường sắt của Áo vào thời điểm này không hề chậm. Đặc biệt là sau khi chính phủ đưa ra chính sách kích thích, các công ty đường sắt cũng đang gấp rút triển khai.
Từ năm nay trở đi, đường sắt Áo sẽ đón chào một làn sóng thông xe. Nhiều đoạn đường sẽ lần lượt được đưa vào sử dụng, tình hình vận chuyển trong nước sẽ được cải thiện đáng kể.
Sau khi xem được câu trả lời mình muốn, Franz mỉm cười nói: "Ta rất hài lòng với tốc độ này. Ngài Stein đã vất vả rồi. Bây giờ ngài có thể đi làm việc tiếp."
"Vâng, Bệ hạ!"
Nói xong, Stein quay người rời đi. Các cuộc họp sau đó không phải là nơi mà một quan chức kỹ thuật như ông có thể tham dự.
Franz không có ý định bồi dưỡng những quan chức toàn tài. Các quan chức trong các ban ngành chính phủ phần lớn đều là những nhân tài tinh thông một lĩnh vực nào đó. Nếu mọi thứ đều tinh thông, vậy thì có thể thu dọn đồ đạc về nhà. Chính phủ Áo không cần những người toàn tài.
Nếu thực sự có loại thiên tài này, Franz nghĩ rằng tốt hơn là nên đưa họ đi làm nghiên cứu khoa học. Làm chính trị quá nguy hiểm, ngay cả ông, vị hoàng đế này cũng sợ.
Nhìn Stein rời đi, Franz lên tiếng: "Thưa chư vị, nếu không có gì bất ngờ xảy ra, trước cuối năm nay, tuyến đường sắt Áo đi Salzburg sẽ có thể thông xe. Hiện tại, việc thi công nền đường đã hoàn thành.
Kế hoạch đã định sẽ không thay đổi. Bây giờ còn phải trì hoãn ít nhất nửa năm. Ngài Metternich có ý kiến gì không?"
Ngoại trưởng Metternich suy nghĩ một chút rồi trả lời: "Bệ hạ, điều này còn phải xem tình hình chiến sự ở tiền tuyến Balkan.
Theo thông tin chúng ta thu thập được, quân Nga đã điều động 251.000 quân đến khu vực này. Quân đội Ottoman trên danh nghĩa có bốn trăm năm mươi ngàn người, nhưng trên thực tế số lượng còn thiếu ít nhất một phần năm. Sức chiến đấu của họ có lẽ không được lạc quan cho lắm.
Nếu người Nga tốc chiến tốc thắng, đánh chiếm Constantinople trước khi Anh và Pháp can thiệp, thì kế hoạch đã định của chúng ta sẽ rất khó tiếp tục."
Đừng nhìn bề ngoài có vẻ như quân đội Ottoman đông hơn, nhưng trên thực tế, Metternich vẫn đánh giá cao người Nga hơn. Việc quân đội Ottoman có số lượng đông hơn không có nghĩa là số lượng quân đội trên chiến trường cũng nhiều hơn.
Hiện tại, người Nga đã giao hai công quốc dọc sông Danube cho Áo, trên thực tế họ đã giao trách nhiệm duy trì sự ổn định phía sau cho Áo, bao gồm cả công tác vận chuyển hậu cần ở khu vực này, đều do quân đội Áo đảm nhiệm.
Đế quốc Ottoman là bản thổ tác chiến, nhưng ở vùng Bulgaria, người Nga được lòng dân hơn. Với sự hỗ trợ của người Nga, số lượng đội du kích địa phương đã vượt quá con số năm chữ số. Ưu thế bản thổ tác chiến của người Ottoman biến thành tình thế bất lợi.
Thống chế Radetzky tự tin phê bình: "Ngài Metternich không cần lo lắng. Đây là một cuộc chiến tranh nát bét.
Sau khi quân đội Áo tiếp xúc với quân Nga tiến vào bán đảo Balkan, về cơ bản có thể phán đoán được sức chiến đấu của quân Nga, thấp hơn nhiều so với những gì chúng ta tưởng tượng.
Thứ nhất, quân Nga có sự bố trí binh lực vô cùng hỗn loạn. Biên chế quân đội vẫn còn dừng lại ở thời đại chiến tranh chống Pháp. Nội bộ quân đội hủ bại nghiêm trọng, vũ khí trang bị lạc hậu, hệ thống hậu cần hỗn loạn.
Thứ hai, quân kỷ của quân Nga tan rã. Kỵ binh Cossacks lại càng là một lũ châu chấu. Chúng đi đến đâu là gây họa đến đó. Đánh một trận thuận gió thì còn được, một khi gặp thất bại thì lập tức giải tán.
Quân đội Đế quốc Ottoman mời huấn luyện viên người Pháp huấn luyện, nhưng chỉ học được cái vẻ bề ngoài của người Pháp. Ngoài việc trông có vẻ giống quân đội hiện đại hóa ra, trên thực tế vẫn là kiểu cũ.
Trong vấn đề hủ bại, quân đội Ottoman còn nghiêm trọng hơn. Người Nga tốt xấu còn có thể bù đắp biên chế, chỉ huy Ottoman trực tiếp ăn chặn trợ cấp. Số lượng quân đội còn thiếu nghiêm trọng.
Rất nhiều binh lính vẫn bị các sĩ quan cưỡng ép bắt đi lính, kéo cho đủ số. Có thể có mấy phần sức chiến đấu, ta không ôm ấp bất kỳ mong đợi nào.
Tóm lại, sức chiến đấu của quân đội Ottoman kém hơn. Nếu không có ngoại lực can thiệp, cuộc chiến tranh này họ chắc chắn sẽ thua, nhưng việc bảo vệ Constantinople không có vấn đề lớn."
Franz công nhận những lời phê bình của Thống chế Radetzky. Trong lịch sử cuộc chiến tranh Crimea, sức chiến đấu mà người Nga thể hiện ra chỉ có một từ —— nát. Còn người Ottoman thì nói cho mọi người biết rằng không có gì là nát nhất, chỉ có càng nát hơn!
Tóm lại, người Nga và người Ottoman thời kỳ này đều thuộc về giai đoạn suy yếu. Không chỉ có họ, trên thực tế, Pháp, Áo, Tây Ban Nha, Phổ cũng vậy. Ngoại trừ người Anh ra, các cường quốc châu Âu đều không ở trạng thái tốt nhất.
Dưới hiệu ứng cánh bướm của Franz, Áo đã được cứu thoát. Nhờ sự "tôn lên" của người Nga và người Ottoman, Thống chế Radetzky có sự tự tin và lòng tin.
