Logo
Chương 182: Khảo nghiệm thời khắc đến

Eranz không thích giở trò quỷ, tiếc là thực lực không cho phép.

Ví dụ như chuyện hiện tại, việc tính toán Tam quốc Anh, Pháp, Nga rõ ràng là một dương mưu, không biết vì sao lại biến thành âm mưu.

Âm mưu và dương mưu thường chỉ cách nhau một đường, không có cái nào mạnh nhất, cái nào phù hợp nhất mới là tốt nhất.

Nếu có người đem kế hoạch của Franz nói cho Nicholas I, kết quả sẽ ra sao?

Câu trả lời là: Chẳng có gì xảy ra cả, Nicholas I chỉ cười xòa cho qua.

Giữa các quốc gia, vốn dĩ là lợi dụng lẫn nhau, tính toán nhau là chuyện bình thường. Muốn hợp tác thân mật, khăng khít? Đừng ngốc, chuyện đó căn bản không tồn tại.

Những chính trị gia lão luyện chỉ nhìn đồng minh làm gì, kết quả sẽ ra sao, cân nhắc thiệt hơn để quyết định quan hệ hai nước, chứ không phải đoán xem đồng minh đang nghĩ gì.

Vậy nên, hố đồng đội phải có trình độ, nếu trình độ không đủ, bị đồng đội hố ngược thì đừng khóc, sau này còn nhiều ngày bị hố nữa!

Ví dụ như bây giờ Franz đang hố người Nga, nhưng thực tế chỉ cần Áo thực hiện nghĩa vụ đồng minh, Nga sẽ coi Áo là đồng minh kiên định nhất, quan hệ Nga - Áo cũng sẽ không bị ảnh hưởng.

Thậm chí, nếu bây giờ Franz nói với Nicholas I rằng Áo muốn xuất binh giúp một tay, người Nga cũng không ngạc nhiên, ngược lại còn kinh sợ hơn ấy chứ.

Ra bao nhiêu sức, chia sẽ bấy nhiêu chiến lợi phẩm, đó là cơ sở của liên minh Nga - Áo. Một khi lợi ích phân phối mất cân đối, liên minh cũng chẳng còn giá trị tồn tại.

Liên minh Nga - Áo là bình đẳng, không có chuyện nước nào phụ thuộc nước nào. Nếu Áo thực hiện xong nghĩa vụ đồng minh, thậm chí còn gánh vác nhiều hơn, thì việc phân chia chiến lợi phẩm cuối cùng đương nhiên phải thay đổi.

Trong cuộc chiến ở bán đảo Balkans, người Nga không cần viện binh của Áo, chính phủ Sa hoàng không phải là kẻ thích của rẻ. Họ không thể vì giảm bớt thương vong cho binh lính mà đánh đổi bằng lợi ích.

Về mặt chiến lược, nếu Áo muốn tấn công đế quốc Ottoman, tuyến đường xuất binh tốt nhất cũng giống như của người Nga hiện tại.

Hậu cần quyết định tất cả, dựa vào lưu vực sông Danube để vận chuyển vật tư chiến lược, từ hạ lưu sông Danube tiến vào Bulgaria sẽ dễ hơn nhiều so với việc leo núi, vượt đèo từ Bosnia, Serbia.

Kết quả của cuộc chiến này không nằm ở việc chiếm được bao nhiêu đất đai của đế quốc Ottoman, mà là có chiếm được Constantinople hay không.

Chỉ cần người Nga chiếm được Constantinople, hải quân Anh, Pháp chỉ có thể rút khỏi eo biển Biển Đen, nếu không bị người Nga phong tỏa eo biển Bosphorus, họ sẽ chẳng khác nào cá nằm trên thớt.

Nắm được quyền kiểm soát Biển Đen, có thể vận chuyển hậu cần bằng đường biển, với quốc lực của Nga và Áo, việc hỗ trợ một triệu quân tác chiến ở bán đảo Balkans không thành vấn đề.

Khác với bây giờ, dù quân Nga có dồn bao nhiêu quân vào bán đảo Balkans, tối đa cũng chỉ được bốn, năm trăm ngàn, nhiều hơn nữa thì chưa cần địch đánh, hậu cần đã kéo chết rồi.

Nếu đổi thành quân Áo, con số này ít nhất phải giảm đi một phần tư.

Quân đội Áo được mệnh danh là quân đội rẻ nhất châu Âu, không phải không có lý do. Yêu cầu về hậu cần tiếp tế của họ thấp nhất trong số các cường quốc.

Trong chiến tranh cận đại, vũ khí trang bị lạc hậu, ít pháo đồng nghĩa với áp lực hậu cần nhỏ.

Chính phủ Sa hoàng thiếu gì chứ, có thiếu binh đâu?

Tổn thất vài trăm ngàn thì bổ sung lại vài trăm ngàn, các quý tộc chẳng hề bận tâm đến thương vong của binh lính. Nếu để quân Áo tham gia đánh hạ Constantinople, họ cũng chẳng cần độc chiếm eo biển Biển Đen.

Lợi ích quốc gia là trên hết, đừng mong đợi đồng minh tự mang lương khô đến giúp đỡ mà không có mục đích.

Biển Đen quá nhỏ, người Nga từ lâu đã coi nơi này là của riêng, nhưng không muốn chia sẻ cho Áo một phần.

Theo thỏa thuận hiện tại, người Nga có thể giành được lợi ích lớn nhất, cái giá phải trả chỉ là một đám "gia súc xám" thương vong, mà chính phủ Sa hoàng thì không bao giờ thiếu người.

...

Metternich nói: "Bệ hạ, hôm qua công sứ Nga tại Vienna đã tìm tôi, họ muốn tăng quân ở bán đảo Balkans và hy vọng chúng ta cung cấp thêm vật tư chiến tranh.

Bước đầu đánh giá, việc Anh, Pháp tham chiến đã thúc đẩy quyết định này của chính phủ Sa hoàng. Có vẻ họ muốn tăng quân để thể hiện quyết tâm với bên ngoài."

Franz suy nghĩ một lát rồi nói: "Cung cấp vật tư chiến lược thì dễ thôi, chỉ cần người Nga chịu trả tiền, cứ bán cho họ là được.

Thống chế, ta muốn biết phe Anh, Pháp, Ottoman có thể dồn bao nhiêu quân vào bán đảo Balkans, và liệu việc người Nga tăng quân có giúp họ chiếm được ưu thế không?"

Thống chế Radetzky tính toán rồi trả lời: "Bệ hạ, theo những gì tôi cân nhắc, phe Anh, Pháp, Ottoman nhiều nhất có thể điều động tổng cộng tám trăm ngàn quân.

Tuy nhiên, khi quân Nga tiến sâu hơn, họ có thể điều động càng nhiều quân hơn. Nếu quyết chiến dọc theo khu vực Haiti, họ có thể huy động hơn một triệu quân.

Nhưng đó là con số lý tưởng, để đảm bảo việc tác chiến của số lượng quân đội lớn như vậy, vật tư chiến lược cũng là một vấn đề lớn.

Đế quốc Ottoman chỉ có thể giải quyết hai, ba phần, phần còn lại phải vận chuyển từ chính quốc Anh, Pháp.

Cân nhắc đến chi phí chiến tranh, Anh, Pháp có thể sẽ chọn trang bị vũ khí giá rẻ cho pháo hôi Ottoman để đánh với người Nga. Việc người Nga tăng quân có giúp họ chiếm ưu thế trên chiến trường hay không còn phụ thuộc vào tỷ lệ quân đội của Anh và Pháp.

Về mặt chiến lược, tôi không đánh giá cao khả năng người Nga thực hiện được mục tiêu. Vì mất quyền kiểm soát Biển Đen, việc tiếp tế của quân Nga chủ yếu dựa vào vận chuyển bằng sông Danube.

Nhưng khi chiến tuyến tiến xa hơn, quãng đường vận chuyển trên bộ cũng tăng lên.

Trong trận quyết chiến ở Bulgaria, người Nga có thể điều động tối đa năm trăm ngàn quân, nếu đến vùng Istanbul, con số này chỉ còn bốn trăm ngàn.

Tình hình thực tế có thể còn tệ hơn, vì đế quốc Ottoman đã cai trị bán đảo Balkans hàng trăm năm, quân Nga chiếm được những khu vực này cũng khó lòng loại bỏ ảnh hưởng của họ trong thời gian ngắn.

Người Ottoman chắc chắn sẽ tổ chức du kích, phá hoại đường tiếp tế của quân Nga, gây khó khăn cho việc vận chuyển hậu cần.

Nếu không thể đánh nhanh thắng nhanh, thời gian càng kéo dài, khả năng người Nga thắng cuộc càng thấp."

Franz khẽ mỉm cười, đó chính là kết quả hắn muốn. Một nước Nga không thể thắng cuộc chiến tranh mới là đồng minh tốt của Áo.

Thậm chí, dưới áp lực của Anh, Pháp, quan hệ Nga - Áo có thể còn tiến thêm một bước. Có một hậu phương vững chắc, Áo mới có thể an tâm phát triển.

Bây giờ Franz chỉ mong Nicholas I giữ vững ý chí, để cuộc chiến này kéo dài càng lâu càng tốt.

Các đời Sa hoàng cũng đã làm gương tốt, người Nga có câu: "Sa hoàng Nga nào chưa từng tham gia chiến tranh Nga - Thổ thì không phải là một Sa hoàng tốt!"

Chiến tranh Nga - Thổ thường kéo dài bốn, năm năm, về cơ bản cứ một thế hệ lại đánh một lần, trừ lần chiến tranh Nga - Thổ trước, ngắn nhất cũng là ba năm, có hai lần kéo dài hơn mười năm.

Về mặt quân sự, khả năng người Nga thất bại là rất nhỏ. Đánh được thì tấn công, không đánh được thì phòng thủ.

Nếu đánh tiêu hao chiến, người Nga không ngại tài lực, Anh, Pháp không ngại nhân lực.

Gấu Nga mất vài trăm ngàn thanh niên trai tráng, vẫn có thể lấy thêm vài trăm ngàn nữa, các quý tộc chẳng quan tâm đến thương vong của binh lính; Anh, Pháp mất vài trăm ngàn thanh niên trai tráng thì phải cân nhắc tình hình trong nước.

Chỉ cần người Nga không chịu thua, chịu dùng mạng người để đổi, Anh, Pháp dù có cố gắng hết sức cũng không thể đánh bại họ hoàn toàn.

Trừ khi Anh, Pháp dám tấn công chính quốc Nga, từ biển Baltic đánh đến St. Petersburg, còn ở Cận Đông, dù đánh thế nào cũng không ảnh hưởng đến tính mạng của "gấu".

Điều này cũng có nghĩa là, nếu người Nga không thể thắng nhanh chóng, yếu tố quyết định thắng bại chính là khả năng chịu đựng tài chính của người Nga và khả năng chịu đựng thương vong của Anh, Pháp.

Dù sao cuộc chiến này không nghiêm trọng như thế chiến, Tam quốc Anh, Pháp, Nga chưa đến mức sống còn, không cần phải liều mạng.

Franz lạnh nhạt nói: "Hãy thúc đẩy mọi thứ, người Pháp đã ra quân rồi, nhưng quân viễn chỉnh Anh vẫn còn ở trong nước. Sân khấu đã dựng xong, không thể để họ vắng mặt trong vở kịch hay này."

John Bull quá vô liêm sỉ, nếu không đẩy họ ra chiến trường, biết đâu chính phủ London sẽ đưa ra lựa chọn giống như Áo.

Huống chi, nếu không để người Anh nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh trên lục địa, sao có thể khiến họ ngoan ngoãn hơn trong các hành động sau này của Áo?

...

London

Vì để quốc Ottoman đại bại trong trận hội chiến ở Bulgaria, việc Anh trước đó chuẩn bị xuất binh tượng trưng hai mươi ngàn quân rõ ràng là không đáp ứng được yêu cầu của chiến tranh.

Trong cuộc đàm phán ở Paris không lâu trước đó, Palmerston buộc phải nâng số quân xuất binh của Anh từ hai mươi ngàn lên tám mươi ngàn.

Tám mươi ngàn quân đối với bất kỳ cường quốc lục quân nào cũng chỉ là chuyện nhỏ, mười ngày nửa tháng là có thể tập hợp đủ, nhưng đối với người Anh thì lại khác.

Lục quân "bỏ túi" của họ tổng cộng chỉ có hơn một trăm ngàn người, việc rút đi nhiều quân như vậy rõ ràng là rất khó khăn.

"Ngài Palmerston, tại sao lại tự ý tăng số lượng quân xuất binh? Ngài có biết điều này gây ra bao nhiêu phiền toái cho chúng ta không?" Bộ trưởng lục quân Maximi bất mãn hỏi.

Palmerston đã liệu trước nên giải thích: "Ngài Maximi, đây là yêu cầu chính trị. Trong trận đại chiến vừa kết thúc, đế quốc Ottoman tổn thất nặng nề, theo kế hoạch trước đó của chúng ta thì không thể đáp ứng được yêu cầu của chiến tranh.

Muốn kiềm chế dã tâm của người Nga, chúng ta phải điều động thêm lực lượng.

Người Pháp đồng ý tăng thêm một trăm hai mươi ngàn quân, cộng với năm mươi ngàn quân đã có mặt trên chiến trường, tổng cộng là một trăm bảy mươi ngàn quân. Trong tình huống này, chúng ta cũng không thể không nâng cao số lượng quân xuất binh.

Huống chi, hai mươi ngàn quân trên chiến trường thực sự quá nguy hiểm, sơ sẩy có thể bị tiêu diệt toàn quân.

Nếu là tám mươi ngàn quân thì an toàn hơn nhiều, không cần lo lắng bị người Nga nuốt chửng, bộ lục quân của các ngài cũng không cần lo lắng đề phòng."

Nghe Palmerston giải thích, Maximi càng thêm tức giận. Ông thừa nhận so với hải quân hoàng gia, lục quân Anh thực sự không thể so bì.

Nhưng việc bị coi thường như vậy là quá đáng rồi. Phải biết rằng sức chiến đấu của lục quân Anh không hề kém, chỉ là vì số lượng quá ít nên mới không được xếp hạng cao.

"Ngài Palmerston, ngài đang nghi ngờ sức chiến đấu của lục quân sao?" Maximi đỏ mắt nhìn chằm chằm Palmerston chất vấn.

Những chuyện này nghĩ trong bụng thì thôi, công khai làm bẽ mặt lục quân là quá đáng rồi. Thực lực lục quân Anh không đủ là do quân phí quá ít, chứ không phải do họ không cố gắng.

Nhận ra mình lỡ lời, Palmerston lập tức chữa cháy: "Không, ngài Maximi. Hoàn toàn ngược lại, tôi rất coi trọng sức chiến đấu của lục quân.

Như người ta thường nói, năng lực càng lớn thì trách nhiệm trên chiến trường càng cao. Nếu binh lực của chúng ta quá ít, rất dễ bị người Nga sơ hở."

Chính ông ta cũng không tin những lời này, dù trong liên minh nước Anh xuất binh ít nhất, nhiệm vụ làm pháo hôi vẫn sẽ rơi vào người Ottoman, sao có thể để quân Anh mạo hiểm chứ?

Maximi hừ lạnh một tiếng.

Thủ tướng John Russell chuyển chủ đề: "Ngài Maximi, các đồng minh của chúng ta đã không thể chờ đợi được nữa, lục quân cần bao lâu nữa để chuẩn bị xong?"

Đối với biểu hiện của đế quốc Ottoman, John Russell rất khinh bỉ.

Dù gì năm xưa cũng là đế quốc đánh khắp châu Âu, bây giờ lại dễ dàng bị người Nga đề xuống đất đánh, đơn giản là làm mất mặt tổ tông.

Khinh bỉ thì khinh bỉ, bây giờ mọi người vẫn là đồng minh, để đối phó kẻ thù chung, nên liên thủ vẫn phải liên thủ. Chỉ có điều quyền phát biểu của người Ottoman trong liên minh lại giảm xuống hai bậc.

Maximi đã chờ đợi những lời này từ lâu, ông đáp: "Thưa Thủ tướng, chúng ta cần tăng cường quân bị!"

Đây là một chủ đề khó xử, vì người Anh chú trọng hải quân nên số lượng lục quân mãi không tăng lên được.

Một trăm mấy chục ngàn lục quân phải duy trì các thuộc địa rộng lớn, số quân ở lại trong nước được bao nhiêu?

Nếu rút đi hai mươi ngàn quân thì họ còn có thể cố gắng được, nếu rút đi tám mươi ngàn quân thì phải lấy hết quân ở chính quốc ra đi.

Chính quốc nhất định phải giữ quân, chỉ sợ là để trấn áp vùng Ireland, cũng không thể rút hết quân trong nước.

Số lượng lục quân ở các thuộc địa hải ngoại cũng không nhiều, không có để rút. Dĩ nhiên, người Anh có không ít quân thuộc địa, nếu có thể sử dụng thì rất nhanh sẽ có đủ quân.

John Russell xoa trán, rồi hỏi: "Các ngài định tăng cường quân bị bao nhiêu?"

Maximi cười ha hả đáp: "Không nhiều, bộ lục quân chúng tôi yêu cầu không cao, chỉ cần mở rộng thêm một trăm hai mươi ngàn quân là được."

Nghe những lời này, John Russell lắc đầu nói: "Ngài Maximi, việc muốn mở rộng một trăm hai mươi ngàn quân không thành vấn đề, chỉ cần các ngài có thể thuyết phục quốc hội."

Maximi hơi đỏ mặt, nếu thuyết phục quốc hội dễ như vậy thì số lượng lục quân Anh đã không ít như vậy rồi.

Trong số các cường quốc công nghiệp thời đó, cộng thêm vị thế cường quốc thực dân số một thế giới, đế quốc Anh thực sự là lắm tiền nhiều của, dù có nuôi thêm một trăm mấy chục ngàn lục quân cũng không thành vấn đề.

Maximi bình tĩnh nói: "Thưa Thủ tướng, binh lực lục quân có hạn, nơi cần phòng thủ lại quá nhiều, hiện tại tổng binh lực ở lại trong nước chỉ có hơn bảy mươi ngàn người.

Rút đi hai mươi ngàn quân đã rất miễn cưỡng, nếu rút đi tám mươi ngàn quân, tôi có dồn cả công nhân vệ sinh của bộ lục quân vào cũng không đủ."

Đây là một cơ hội tốt để tăng cường quân bị, bộ lục quân đương nhiên sẽ không bỏ lỡ. Mỗi lần tăng cường quân bị đều đi kèm với lợi ích lớn, Maximi đương nhiên phải cố gắng tranh thủ.

"Nhưng việc tăng cường quân bị một trăm hai mươi ngàn quân một lúc là quá nhiều, ta không thể thuyết phục quốc hội. Vẫn là câu nói vừa rồi: Chỉ cần các ngài có thể thuyết phục quốc hội thì không thành vấn đề." John Russell mặt không đổi sắc phản đối.