Khi cuộc hội chiến ở Balkan bước vào giai đoạn quyết định, cán cân chiến thắng bắt đầu nghiêng về phía Nga, Hy Lạp, vốn giữ thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, nay không thể ngồi yên.
Gấu Nga đâu phải đối thủ dễ xơi, nếu cứ để tình hình này tiếp diễn, chờ Nga thắng trận, Hy Lạp sẽ chẳng còn gì.
Rõ ràng, chính phủ Hy Lạp đã có một phán đoán chiến lược sai lầm, khi cho rằng chỉ cần Nga thắng trận này, Anh và Pháp sẽ phải nhượng bộ.
Vào thời điểm đó, danh tiếng của gấu Nga vẫn còn rất lớn, được công nhận là cường quốc số một ở châu Âu lục địa và cường quốc lục quân số một thế giới.
Người Hy Lạp rất tin tưởng vào sức mạnh của Nga, thậm chí còn đánh giá cao Nga hơn cả liên minh Anh - Pháp.
Nhưng chính họ cũng không nhận ra rằng, kết luận này của họ đã bị lợi ích che mờ mắt.
Sâu thẳm trong tâm trí, họ khao khát mở rộng lãnh thổ, khôi phục vị thế cường quốc đã từng có. Vì vậy, họ hy vọng Nga giành chiến thắng để có cơ hội bành trướng.
Còn mối đe dọa từ một nước Nga thắng trận, đã bị người Hy Lạp cố tình bỏ qua. Khi lợi ích đã che mờ mắt, ai còn bận tâm đến những điều khác?
Ngày 12 tháng 11 năm 1852, Otto I ban một mật lệnh, quân đội Hy Lạp đồng loạt tuyên bố giải ngũ, sau đó thay quần áo, lấy danh nghĩa dân thường tình nguyện tham gia chiến đấu, phát động tấn công vào Thessaly và Epirus.
Đừng hiểu lầm, họ chỉ đơn thuần muốn chiếm đất, chứ không có ý định giúp Nga thắng trận.
Lúc này, người Hy Lạp vẫn còn e ngại sự đe dọa từ Anh và Pháp, nên trên danh nghĩa, họ hoàn toàn phủ nhận mọi liên quan đến hành động quân sự này.
Ngoài miệng thì nói không liên quan, nhưng thực tế, chính phủ Hy Lạp lại không hề kiềm chế, liên tục vận chuyển vật tư chiến lược đến tiền tuyến, đủ để chứng minh tất cả.
Người Hy Lạp đã chọn thời điểm rất tốt, khi phần lớn binh lực của Đế quốc Ottoman đã dồn vào chiến trường, chỉ còn lại một số đơn vị cảnh sát để duy trì an ninh.
Dù sức chiến đấu của quân đội Hy Lạp không có gì nổi bật, nhưng với 70.000 quân đối phó với một đám cảnh sát thì vẫn không thành vấn đề, dễ dàng đánh tan quân Ottoman ngay từ đầu.
Nếu lúc đó, người Hy Lạp không do dự, tiến thẳng về Constantinople, thì Đế quốc Ottoman chẳng còn quân đội nào để ngăn cản.
Cả châu Âu đổ dồn ánh mắt về Athens, nhận ra rằng mấu chốt quyết định thắng bại của cuộc chiến, không ngờ lại nằm trong tay người Hy Lạp.
Không còn gì để nói, đương nhiên là mua chuộc cộng với uy hiếp và dụ dỗ. Đại diện của Anh, Pháp và Nga tề tựu tại Athens, mỗi bên đưa ra một điều kiện.
Không có đại diện của Áo, không phải Franz không hứng thú với việc lôi kéo Hy Lạp, mà là chính phủ Áo không thấy cần thiết phải trả giá cho việc đó.
Hay nói đúng hơn, mua chuộc Hy Lạp quá đắt đỏ, vượt quá khả năng chi trả của chính phủ Áo. Franz không định lãng phí sức lực vào việc này, chính phủ Vienna quyết định bỏ cuộc ngay từ đầu.
Otto I do dự, không biết nên chọn bên nào. Dù chính phủ Hy Lạp có thừa nhận hay không hành động quân sự này, thì mọi người đều cho rằng đó là việc của họ, lớp vỏ bọc đã bị xé toạc.
Một bên là lời cảnh cáo nghiêm khắc từ Anh và Pháp, một bên là sự dụ dỗ từ Nga. Thoạt nhìn có vẻ dễ lựa chọn, nhưng thực tế lại đầy rẫy nguy cơ.
Đế quốc Ottoman vẫn là đồng minh của Anh và Pháp, và cuộc chiến vẫn tiếp diễn, Đế quốc Ottoman vẫn đóng góp đáng kể vào cuộc chiến này.
Ngay cả khi muốn bán đồng đội, Anh và Pháp cũng không thể làm điều đó vào lúc này, các cường quốc cũng cần phải có sự phối hợp. Món mồi mà Anh và Pháp đưa ra chính là các khoản vay.
Ai cũng biết chính phủ Hy Lạp đang thiếu tiền, nhất là khi họ còn "không biết sống chết" mà dốc sức phát triển hải quân, tài chính đương nhiên không mấy khả quan.
Giá mà Nga đưa ra, lại càng hợp khẩu vị của Otto I, chỉ cần họ chịu xuất binh đánh Constantinople, thì Thessaly, Epirus, Thrace và Macedonia đều có thể thương lượng.
Dĩ nhiên, có thể chiếm được bao nhiêu, phụ thuộc vào việc người Hy Lạp có đánh hạ được Constantinople hay không. Nếu có thể đánh hạ, điều đó chứng tỏ thực lực của họ, và những lời hứa kia đều có thể thực hiện.
Ngược lại, tình hình sẽ không mấy tốt đẹp. Làm láng giềng với gấu Nga, nếu không đủ mạnh, thì sẽ trở thành con mồi của chúng.
Tình huống sau, dĩ nhiên bị Otto I cố tình lờ đi. Nếu không phải lúc này, họ cũng sẽ không tranh thủ cơ hội đục nước béo cò.
Otto I hiểu rất rõ, ý dân đã bị kích động, hơn phân nửa những người tham gia hành động quân sự này đều là lính tình nguyện, chính phủ đã không còn khả năng kiểm soát tình hình.
Nếu không có những dũng sĩ tự mang lương khô này, chính phủ Hy Lạp cũng không có tiền để chiêu mộ 70.000 quân. Bây giờ tên đã lên dây, không thể không bắn, Otto I không thể lùi bước.
Thủ tướng vội vã chạy tới, hốt hoảng nói: "Bệ hạ, có chuyện lớn, có chuyện lớn rồi!"
Otto I hỏi: "Bình tĩnh nói, rốt cuộc chuyện gì xảy ra?"
Thủ tướng ủ rũ nói: "Bệ hạ, tin tức về cuộc đàm phán giữa chúng ta với Anh, Pháp và Nga đã bị lộ ra ngoài, dân chúng đang xôn xao.
Vừa rồi, vô số người dân đã xuống đường, nộp đơn thỉnh nguyện lên chính phủ. Họ yêu cầu chính phủ từ chối các điều kiện của Tam quốc, và đưa ra yêu cầu của họ."
Nhận lấy đơn thỉnh nguyện, lướt qua một lượt, sắc mặt Otto I lập tức trở nên khó coi.
Ông hận không thể băm vằm kẻ đã tiết lộ thông tin, chuyện này thật sự quá tai hại.
Bây giờ dân chúng yêu cầu chính phủ đàm phán với Tam quốc theo ý kiến của họ, nói một cách đơn giản là: Yêu cầu chính phủ xuất binh chiếm Constantinople, khôi phục cương vực của Đế quốc Byzantine.
Đây chẳng phải là trò đùa sao? Otto I cũng muốn khôi phục cương vực của Đế quốc Byzantine, nhưng thực lực không cho phép!
Chuyện như vậy, hô hào khẩu hiệu thì được, chứ thật sự bắt tay vào làm, chẳng phải là tự tìm đường chết sao?
Otto I giận dữ nói: "Tìm bản đồ Đế quốc Byzantine ra, chú thích phạm vi thế lực của các quốc gia, in mười ngàn bản, phát hành trên toàn quốc.
Cử người phổ biến kiến thức cơ bản cho dân chúng, đừng gây ra những chuyện nực cười như vậy nữa."
Đây vốn dĩ là một chuyện nực cười, với thực lực của Vương quốc Hy Lạp, dù có tăng thêm gấp mười lần, hô khẩu hiệu này vẫn là chuyện nực cười.
Nếu có thể tăng thêm gấp trăm lần, thì may ra mới có tư cách thực hiện, nhưng độ khó không hề kém cạnh việc thống nhất châu Âu lục địa.
Thủ tướng mặt mày ủ dột nói: "Bệ hạ, theo phân tích của chúng ta, rất có thể đây là âm mưu của người Ottoman. Bây giờ ý dân đã bị kích động đến điên cuồng, dù có giải thích thế nào cũng vô ích.
Sự khao khát Constantinople của dân chúng đã biến thành nỗi ám ảnh, đoán chừng nhiều người sẽ cho rằng việc từ bỏ yêu sách lãnh thổ đối với Tây Ban Nha, Ý, khu vực châu Phi là sự nhượng bộ."
Chủ nghĩa dân tộc là thứ cuồng nhiệt nhất, một khi trở nên cực đoan thì không thể kiểm soát. Bây giờ chính phủ Hy Lạp đã bị ý dân bắt cóc, và đây là lỗi của Otio I.
Ban đầu, để có được sự ủng hộ của dân chúng, ông đã chọn đứng về phía ý dân. Khi có quốc vương ủng hộ, chủ nghĩa dân tộc nhanh chóng bùng nổ không thể ngăn cản.
Otto I nghiến răng nói: "Vậy thì chính phủ không cần bày tỏ thái độ, bây giờ những người đang tác chiến với người Ottoman đều là lực lượng vũ trang dân gian, không liên quan gì đến chúng ta."
Xuất binh đánh úp Constantinople? Thôi đi, không đánh được còn dễ nói, vạn nhất đánh được mà dân chúng không đồng ý buông tha, họ phải làm sao?
Trong tình hình đắc tội với Anh và Pháp, lại còn tranh giành Constantinople với Nga, thật cho rằng họ là Đế quốc Byzantine sống lại sao?
Với tư tưởng chỉ đạo này, Otto I ra lệnh cho quân đội ở tiền tuyến đánh chắc tiến chắc, đẩy mạnh dọc theo biên giới.
Đồng thời, tiếp tục chiêu mộ thêm tình nguyện viên trong nước, mượn cơ hội đưa những phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan ra chiến trường làm pháo hôi, thanh trừng mối đe dọa, đây là bản năng của giai cấp thống trị.
Kêu gào khẩu hiệu yêu nước long trời lở đất, lúc này nếu sợ hãi, thì đó chính là yêu nước giả tạo, những kẻ mua danh bán lợi dễ bị khinh bỉ nhất.
Chính phủ Hy Lạp hành động nhanh chóng, đưa những pháo hôi này ra tiền tuyến với tốc độ nhanh nhất, quân số ở tiền tuyến tăng lên, trong nước cũng ổn định.
Cái giá phải trả là sức chiến đấu của quân đội tiền tuyến giảm xuống, vốn dĩ sức chiến đấu của họ đã thấp, bây giờ lại thêm một đám "miệng pháo", sức chiến đấu dĩ nhiên là càng tệ hơn.
Constantinople
Thời bình, chính phủ Sultan chẳng thèm để người Hy Lạp vào mắt, nếu không có sự can thiệp của các cường quốc, họ có thể dễ dàng đè bẹp Vương quốc Hy Lạp.
Nhưng bây giờ thì khác, quân chủ lực của Đế quốc Ottoman đang dốc sức chiến đấu với Nga, dù người Hy Lạp yếu hơn, họ vẫn cần quân đội để ngăn chặn.
"Con sâu nhỏ Hy Lạp cũng nhảy ra ngoài, các khanh có ý kiến gì không?" Abdul Mecid I bình tĩnh hỏi.
Có lẽ vì tức giận quá nhiều trong thời gian qua, bây giờ Abdul Mecid I lại không hề nổi nóng. Những người hiểu ông đều biết, đây chỉ là vẻ bề ngoài.
Cơn thịnh nộ của Sultan rất đáng sợ, nhưng một Sultan kìm nén cơn giận, còn đáng sợ hơn. Chỉ những ai từng trải qua cuộc tranh giành quyền lực mới hiểu rõ, Abdul Mecid I đã cười nói giết người như thế nào.
Mudela đáp: "Bệ hạ, thực lực của người Hy Lạp tuy có hạn, nhưng bây giờ là thời khắc mấu chốt, việc họ thừa cơ đục nước béo cò không thể xem thường, chúng ta nhất định phải thận trọng đối đãi."
Abdul Mecid I khiển trách: "Đừng nói những lời vô dụng đó, nói thẳng phải làm thế nào!"
"Vâng, bệ hạ!" Mudela lo lắng đáp.
"Dựa trên phân tích tình báo thu thập được, người Áo đã có được mọi thứ họ muốn, không có ý định tiếp tục dùng binh với chúng ta.
Lúc này, chúng ta có thể cử người đàm phán với chính phủ Áo, dù cuối cùng có thành công hay không, trước tiên cứ ổn định người Áo đã rồi tính.
Ổn định được Áo, chúng ta có thể rút quân đang đối đầu với họ, dùng những đơn vị này để đối phó với người Hy Lạp."
Abdul Mecid I dồn ánh mắt mong chờ về phía ngoại giao đại thần Fuad, chờ đợi câu trả lời của ông.
Suy tư một lát, Fuad đưa ra câu trả lời: "Bệ hạ, muốn ổn định người Áo nhất định phải cho phép họ hưởng lợi lớn, họ rất có thể sẽ mượn cơ hội ép buộc chúng ta cắt nhượng hai công quốc ven sông Danube và vùng Serbia."
"Cắt đất," Abdul Mecid I lộ vẻ do dự, ông phải cân nhắc thiệt hơn giữa việc đạt được thỏa hiệp với Áo vào lúc này.
"Nếu người Áo chịu cắt đút nguồn cung hậu cần cho Nga, những vùng đất này đều có thể cắt nhường cho họ!" Abdul Mecid I hung hãn nói.
Việc cắt đất khiến tim ông rỉ máu, nhưng so với sự sống còn, cái này chẳng là gì cả. Làm láng giềng với Áo, dù sao cũng tốt hơn làm láng giềng với Nga.
Nếu có Áo cản trở Nga, Abdul Mecid I cảm thấy, ông có thể ngủ ngon giấc.
"Bệ hạ, e rằng không làm được. Giữa Nga và Áo chắc chắn tồn tại hiệp ước, họ có lẽ đã phân chia xong phạm vi thế lực ở bán đảo Balkans, sẽ không vì những lợi ích này mà trở mặt với Nga.
Nghe nói Anh và Pháp cũng từng bí mật tiếp xúc với Áo, nhưng cuối cùng đều thất bại." Fuad giải thích.
Không nói không được, vạn nhất Sultan mong đợi quá cao, cuối cùng lại không thành công, xui xẻo vẫn là Bộ Ngoại. giao. Fuad không cho rằng người Áo dễ dàng bị mua chuộc như vậy, coi như có thể mua chuộc, họ cũng không trả nổi cái giá đó.
Xét về lợi ích, Anh và Pháp bán đứng họ chắc chắn ít áp lực hơn, chính phủ Sultan dù sao cũng có giới hạn, không thể nhượng bộ vô điều kiện.
Abdul Mecid I suy nghĩ một chút rồi nói: "Vậy thì chúng ta lùi thêm một bước nữa, chỉ cần Áo chịu đình chiến với chúng ta, thì sẽ cắt nhường công quốc Moldavia cho họ.
Cụ thể đàm phán, các khanh ở Bộ Ngoại giao tự cân nhắc, rắc rối của chúng ta đã đủ nhiều rồi, tóm lại không thể để người Áo quay lại tham chiến."
Công quốc Moldavia bao gồm: Bắc Romania, Cộng hòa Moldova, một phần lãnh thổ Ukraine.
Nơi này là khu vực tiếp giáp giữa Đế quốc Ottoman và Nga trên bán đảo Balkans. Để không phải làm láng giềng với Nga, Abdul Mecid I không ngại trao đi "củ khoai nóng" này.
Dừng lại một chút, dường như cảm thấy điều kiện này không an toàn, Abdul Mecid I lại bổ sung: "Giới hạn cuối cùng là công quốc Wallachia, những khu vực khác trên bán đảo Balkans, chỉ có thể nhượng bộ ở mức độ nhỏ."
Khi nói những lời này, ông vẫn cảm thấy hơi xót xa.
Sớm biết chiến tranh sẽ diễn biến đến cục diện này, ban đầu nên đáp ứng đề nghị của Anh, ném hai công quốc ven sông Danube cho Áo, khơi mào mâu thuẫn giữa họ với Nga.
Abdul Mecid I hiểu rõ, chiến tranh đánh đến mức này, dù liên quân có thắng lợi, họ cũng không thể khôi phục phạm vi thế lực như trước chiến tranh.
Thế giới này là nơi kẻ mạnh có tiếng nói, không có thực lực thì dựa vào cái gì để có được nhiều lợi ích như vậy. Đến lúc đó các cường quốc chỉ cần khều tay một cái, những dân tộc Balkans muốn độc lập sẽ đồng loạt hưởng ứng.
Mâu thuẫn dân tộc trong Đế quốc Ottoman không phải chuyện một sớm một chiều, dù chính phủ Sultan đã nỗ lực rất nhiều, nhưng do năng lực thực thi còn hạn chế, hiệu quả thu được vẫn quá nhỏ.
Nếu không thể ngăn chặn làn sóng độc lập, suy tàn sẽ trở thành định cục.
Các quốc gia khác nếu suy tàn, còn có thể tỏ ra đáng thương để bán manh. Dù sao trên lục địa châu Âu cũng không thiếu nước nhỏ, chỉ cần đi theo đúng "ông lớn" vẫn có thể sống rất thoải mái.
Chỉ có Đế quốc Ottoman là không được, kẻ thù trải rộng khắp châu Âu, lòng căm hận không thể coi như cơm ăn, nhiều bồi thường, nói xin lỗi, chuyện gì cũng có thể vượt qua.
Đáng tiếc họ không phải nước nhỏ, tài sản rất lớn, vị trí địa lý lại vô cùng quan trọng, nằm ở nơi giao nhau giữa ba châu Á - Âu - Phi, có thể nói là trái tim của thế giới.
Thử kiểm kê một lượt cũng biết, trong số mười eo biển quan trọng nhất trên thế giới trong tương lai, có ba cái bị Đế quốc Ottoman kiểm soát hoặc gây ảnh hưởng: eo biển Biển Đen, eo biển Hồng Hải (kênh đào Suez), eo biển Hormuz (vịnh Ba Tư).
Nhiều vị trí chiến lược như vậy, nếu không có đủ thực lực bảo vệ, thì chính là người ở trong nhà ngồi, họa từ trên trời rơi xuống.
Trong lịch sử, con đường suy tàn của Đế quốc Ottoman, chính là cắt thịt, cắt thịt, rồi lại cắt thịt, vứt bỏ những "củ khoai nóng" này đi, mới tạm coi như ổn định lại.
Hiển nhiên đây không phải là điều mà chính phủ Sultan có thể chấp nhận, ai mà không có một giấc mộng cường quốc? Dù là chính phủ Sultan mục nát, cũng không cam tâm chìm đắm.
Phong trào biến pháp để trở nên mạnh mẽ từ thế kỷ trước, chính là nỗ lực tự cứu của họ. Thông qua những cải cách này, Đế quốc Ottoman đã thành công trở lại hàng ngũ cường quốc.
Đáng tiếc chỉ là một "ngụy cường quốc", đánh một trận với Nga là rách toạc da hổ, lộ ra bản chất yếu kém.
"Vâng, bệ hạ!" Fuad thận trọng đáp.
Áp lực, bây giờ ông cảm nhận được áp lực nặng nề. Chuyện này làm xong không có công lao, bất kỳ khoản cắt đất bồi thường nào cũng không có lợi ích.
Nếu làm hỏng, Đế quốc Ottoman sẽ gặp nguy hiểm. Người Hy Lạp rất có thể là "giọt nước tràn ly", Fuad cũng không biết chính phủ Hy Lạp chỉ đơn thuần muốn chiếm đất.
