Người Hy Lạp tự cho mình là một lựa chọn đúng đắn, nhưng không thể nghỉ ngờ, cả hai bên đều không hài lòng, có thể nói là ý kiến bất đồng.
Người Nga thì miễn cưỡng chấp nhận, dù người Hy Lạp có gây sự ở đâu, thì cũng kiềm chế được một phần sức lực của Đế quốc Ottoman. Bây giờ là thời điểm then chốt, có thêm một đồng minh là có thêm một phần lực lượng, tăng thêm một phần phần thắng.
Anh và Pháp thì không thể nào nhịn được, nhất là người Anh. Theo họ, hành động của Hy Lạp là một sự phản bội trắng trợn.
Xung đột giữa hai nước năm 1850 bị chính phủ Luân Đôn làm ngơ. Sự coi thường này đã manh nha từ mấy năm trước, khi Palmerston ra lệnh phong tỏa bến cảng Piraeus, khiến quan hệ hai nước trở nên căng thẳng.
Dĩ nhiên, John Bull cũng không muốn kích động người Hy Lạp vào lúc này. Lỡ như họ bất chấp tất cả, tiến thẳng tới Constantinople, rồi tiện tay chặt đứt tuyến hậu cần của liên quân, thì chưa đầy nửa tháng, liên quân trên bán đảo Balkans sẽ xong đời.
Trong khi quốc hội Luân Đôn đang thảo luận về việc mở ra một mặt trận mới, thì ngoại trưởng Palmerston lại gây họa. Ông ta dan díu với thị nữ của nữ hoàng Victoria ngay trong cung.
Chuyện này cũng chẳng có gì to tát, giới quý tộc đầy rẫy những chuyện ghê tởm, thêm một chuyện cũng chẳng sao. Nếu mọi chuyện diễn ra bí mật, thì ai nấy cũng sẽ làm ngơ cho qua.
Nhưng họ lại dở trò trong một buổi dạ hội ở vương cung, và xui xẻo thay, bị thân vương Albert bắt gặp tại trận.
Chuyện đã vỡ lở, trở thành một vụ tai tiếng cung đình. Thân vương Albert nổi giận, nữ hoàng Victoria cũng không kém.
Nếu không trị một người để răn trăm người, thì tôn nghiêm của vương thất để đâu?
Chuyện vỡ lở, gã xui xẻo Palmerston và cô thị nữ kia bị thị vệ trong vương cung bắt tại chỗ và "chiêu đãi" một trận ra trò.
Dưới hiệu ứng cánh bướm của Franz, lịch sử đã rẽ sang một hướng khác. Trong lịch sử, chuyện Palmerston làm hoen ố trinh tiết của thị nữ kia là một bí mật.
Tấm bình phong chưa bị xé toạc, vẫn còn đường lui. Trong lịch sử, Palmerston cũng đã phải trả một cái giá rất đắt, không chỉ bị hạ bệ mà còn phải tốn một khoản lớn để nhờ người nói giúp, tiến hành một loạt các cuộc trao đổi lợi ích chính trị, cuối cùng mới có thể trở lại chính trường.
Bây giờ, ông ta bị bắt tại trận, không cần phải nói về tương lai, việc vượt qua kiếp nạn trước mắt đã là một vấn đề lớn.
Ngoại trưởng dâm loạn trong cung, tin tức này mà lan ra thì sẽ náo loạn lắm đây. Dân Anh vốn rất thích buôn chuyện, không biết họ sẽ thêu dệt ra những câu chuyện gì nữa.
John Russell trợn tròn mắt, ông ta vô cùng bội phục Palmerston, gã đồng nghiệp này thật may mắn khi có những cuộc tình ái mà ông ta không mơ tới được, và càng khâm phục khả năng gây họa của ông ta hơn.
Sau đó, ông ta vẫn phải nghĩ cách giải quyết hậu quả. Vương thất nhất định phải có một lời giải thích, và gã đồng nghiệp này không thể cứ thế mà biến mất được.
Palmerston không phải là một nhân vật nhỏ, ông ta không chỉ là ngoại trưởng của Đế quốc Anh, mà còn là người đại diện cho giai cấp tư sản trong chính phủ, có sức ảnh hưởng rất lớn trong dân gian.
Thân vương Albert hỏi: "Thủ tướng, theo ngài thì nên xử lý vấn đề này như thế nào?"
Sau khi sai người bắt Palmerston, thân vương Albert liền hối hận. Có rất nhiều cơ hội để trừng trị Palmerston, sao lại phải ra tay ngay lập tức như vậy?
Càng nhiều người biết chuyện thì người ta càng thêu dệt đủ điều. Biết đâu người ta còn cho rằng đây là vương thất đang bức hại đại thần, nên mới dàn dựng ra trò này.
Vì danh dự của vương thất, chuyện này chỉ có thể xử lý kín đáo. Thân vương Albert, một người có đầu óc chính trị vững vàng, đã rất tự nhiên lựa chọn đá bóng sang cho người khác.
...
Vụ tai tiếng bùng nổ đột ngột đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của chính phủ Luân Đôn, trì hoãn thời gian mở ra mặt trận thứ hai, tạo cơ hội cho người Nga.
Tại một ngôi làng nhỏ đổ nát ở Plovdiv, đội du kích Bulgaria đang bí mật họp.
"Thưa các vị, chúng ta vừa nhận được tin tình báo, Đế quốc Ottoman đã rút quân khỏi khu vực này, thay thế họ là ba mươi ngàn quân Anh mới đến.
Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Sức chiến đấu của người Anh mạnh hơn người Ottoman rất nhiều, nếu không có ưu thế binh lực gấp hai, gấp ba lần, chúng ta không thể nào là đối thủ của họ.
Rõ ràng là chúng ta không có nhiều quân đến vậy, đây là thách thức mà chúng ta sắp phải đối mặt.
Từ lời khai của tù binh, chúng ta biết rằng người Anh và người Ottoman cũng có nhiều mâu thuẫn sâu sắc. Dù họ là đồng minh, nhưng những người Anh kiêu ngạo chỉ coi họ là pháo thí.
Đây chính là cơ hội. Nếu họ có mâu thuẫn, thì hai bên sẽ khó mà hợp tác chặt chẽ.
Dù sao thì người Anh cũng là người ngoài, họ chưa quen thuộc với môi trường Bulgaria. Lúc này, họ đang tiến hành giao tiếp với người Ottoman, chắc chắn sẽ có sự hỗn loạn trong thời gian ngắn.
Theo tin tức từ nội tuyến, ngày hôm qua năm ngàn quân Ottoman đóng ở thành Plovdiv đã rút đi, bây giờ chỉ còn lại chưa đến hai ngàn người, trong đó quân Anh chỉ có tám trăm.
Đây là một cơ hội. Nếu chúng ta liên thủ đánh hạ Plovdiv, phá hủy trạm trung chuyển vật liệu của địch, thì chiến sự ở tiền tuyến Sofia chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng."
Người đang nói là một người đàn ông trung niên, ông ta chính là lãnh đạo chủ chốt của liên minh các đội du kích Bulgaria này, Dimiter.
Đừng thấy số lượng du kích Bulgaria bây giờ đã không ít, mà cho rằng họ đã có tổ chức. Trên thực tế, họ vẫn chưa thống nhất, mà vẫn còn tự mình chiến đấu.
Người Nga viện trợ họ, mục đích thực sự là để gây thêm phiền toái cho Đế quốc Ottoman, chứ không có ý định để họ thực sự độc lập, nên dĩ nhiên sẽ không để họ thống nhất lại.
Vào thời đại này, chủ nghĩa dân tộc Bulgaria vẫn chưa thức tỉnh, quốc phụ Bulgaria đời sau – Hristo Botev – vẫn còn là một cậu bé (nếu như có trường mẫu giáo).
Động lực kháng chiến của người Bulgaria chủ yếu là do sự chèn ép của chính phủ Ottoman, và sự bức hại về tôn giáo.
Một thanh niên tóc đen, mắt xanh lục đứng lên, phản đối: "Ông Dimiter, Plovdiv chỉ cách Asenovgrad 15 cây số, cách Pazardzhik 30 cây số.
Điều này có nghĩa là, một khi chúng ta tấn công Plovdiv, quân tiếp viện từ Asenovgrad sẽ đến ngay trong ngày, quân tiếp viện từ Pazardzhik sẽ đến muộn nhất là vào ngày hôm sau.
Pazardzhik còn có ba ngàn quân đóng giữ, Asenovgrad cũng có hai ngàn quân đóng giữ, chúng ta sẽ phải đối mặt với bảy ngàn quân địch, chứ không phải hai ngàn.
Địch vừa rút đi năm ngàn quân đóng giữ, nhất định sẽ có quân thay thế, chúng ta vẫn chưa nhận được tin tức gì về việc này, điều này rất bất thường.
Tình huống như vậy xảy ra chỉ có ba khả năng: Thứ nhất, chỉ huy địch quên, không để ý đến tầm quan trọng của Plovdiv; thứ hai, hệ thống tình báo của chúng ta có vấn đề; thứ ba, đây là một cái bẫy của địch, cố ý dụ chúng ta mắc mưu.
Trường hợp thứ nhất, rõ ràng là không thể nào. Địch không thể ngu đến mức không nhận ra một vấn đề đơn giản như vậy.
Những người cung cấp tình báo cho chúng ta là người dân Bulgaria ở khắp nơi, hành động của đại quân là không thể giữ bí mật. Từ những thông tin chúng ta nhận được, hiện tại vẫn chưa có đội quân lớn nào tiến về Plovdiv.
Vậy thì khả năng đây là một cái bẫy là rất lớn. Nếu chúng ta không thể chiếm Plovdiv trong thời gian ngắn, thì nhiều nhất là ba ngày, quân địch xung quanh sẽ kéo đến bao vây chúng ta."
Dimiter giải thích: "Cyprus, cậu nói không sai. Nơi này rất có thể là một cái bẫy của địch, nhưng sự cám dỗ này thực sự quá lớn.
Chúng ta đều biết, địch trữ một lượng lớn vật liệu ở Plovdiv. Coi như đây là một cái mồi, chúng ta vẫn có cơ hội phá hủy những vật liệu này.
Dù tôi không chắc địch trữ bao nhiêu vật liệu chiến lược ở Sofia, nhưng nhìn vào việc địch coi trọng việc vận chuyển hậu cần, thì có thể đoán rằng số vật liệu chiến lược ở khu vực Sofia không đủ để hỗ trợ quân đội tiền tuyến của họ sử dụng đến khi chiến tranh kết thúc.
Phá hủy những vật liệu này rồi chúng ta sẽ rút lui. Còn về thành phố Plovdiv, hãy tạm thời để lại cho người Ottoman, chờ hội chiến này kết thúc, chúng ta sẽ quay lại."
Phân tích của Dimiter là có cơ sở. Chiến tranh tiến hành đến bây giờ, quân số của địch ở khu vực Sofia đã giảm xuống còn tám mươi ngàn. Chính trong tình huống này, Montes còn rút mười lãm ngàn quân Anh phụ trách vận chuyển hậu cần.
Chính vì hậu cần chiếm quá nhiều binh lực, nên mới dẫn đến việc liên quân bị người Nga đè đầu đánh ở tiền tuyến Sofia.
Vì binh lực khan hiếm, Montes mới phải cầu viện trong nước. Dimiter vội vã phá vỡ cục diện, chủ yếu là vì quân tiếp viện của địch sắp đến rồi, nếu không đánh thì thật sự sẽ không thắng được.
Đây là hậu quả của việc liên quân vội vàng ứng chiến. Người Nga đã có sự chuẩn bị từ trước, các đơn vị tiền tuyến bị tổn thất nặng nề, liền rút ra phía sau để bổ sung.
Việc bổ sung binh cũng được đưa đến công quốc Wallachia, chứ không trực tiếp đưa đến tiền tuyến, đó là vì hậu cần không kham nổi, chỉ có thể đợi ở bờ sông Danube.
Đế quốc Ottoman thì trực tiếp chơi trò "tóm quân", bây giờ chỉ dựa vào bắt lính để bổ sung binh lực. Vì bán đảo Balkans đã thất thủ hơn phân nửa, không còn chỗ nào để bắt tráng đinh nữa, tốc độ bổ sung không theo kịp tốc độ tiêu hao ở tiền tuyến.
Anh và Pháp thì ở quá xa bán đảo Balkans, muốn bổ sung quân đội thì phải báo cáo về nước, còn phải trải qua sự xét duyệt của đám quan liêu, chỉ riêng thời gian đã là một vấn đề lớn.
Xét về mặt này, việc người Anh chuẩn bị mở ra mặt trận thứ hai quả thực là có tầm nhìn xa trông rộng. Một khi chiến tranh ở bán đảo Crimea nổ ra, người Nga sẽ phải mệt mỏi.
Dù chuẩn bị có chu đáo đến đâu, cũng không phải là không có giới hạn. Giao thông tồi tệ trong nước chắc chắn là kẻ thù lớn nhất, hạn chế sức mạnh của người Nga.
Một người đàn ông trung niên cười lạnh nói: "Ông Dimiter, liên minh các đội du kích của chúng ta cũng chỉ có hơn năm ngàn người, vũ khí trang bị thế nào ông cũng rõ.
Nếu đây là một cái bẫy, thì địch nhất định sẽ có sự chuẩn bị. Bên ngoài xem ra, đơn vị có sức chiến đấu của địch chỉ là tám trăm quân Anh.
Nhưng trên thực tế, ai mà biết được? Quân đội Ottoman cũng không phải là không có người có thể đánh. Nếu họ đều là một lũ phế vật, thì chúng ta đã sớm giành lại độc lập rồi.
Lỡ như hơn một ngàn quân Ottoman đó là bộ đội tinh nhuệ của Ottoman, cộng thêm tám trăm quân Anh, thì sức chiến đấu không hề kém chúng ta bao nhiêu.
Tôi cho rằng việc tấn công Plovdiv quá nguy hiểm, coi như chúng ta có nội ứng trong thành, thì tỷ lệ thành công cũng quá thấp."
Ở đâu có người, ở đó có giang hồ. Đội du kích Bulgaria vốn đã chia thành nhiều nhánh, phần lớn được hình thành theo khu vực, rất nhiều người đang nhòm ngó quyền lãnh đạo đội du kích.
Dimiter chỉ là lãnh tụ trên danh nghĩa của các đội du kích này, những người bất mãn với ông ta cũng không ít. Chỉ là khi đối mặt với kẻ thù chung, những mâu thuẫn này bị kìm nén.
"Ông Hamill có cao kiến gì?" Dimiter bình tĩnh hỏi.
Ông ta nghe ra, Hamill không phải là phản đối tấn công Plovdiv, mà là có tính toán khác.
Hamill khẽ mỉm cười nói: "Cao kiến thì không có, nếu không xác định đây có phải là một cái bẫy hay không, thì chúng ta cứ thử dò xét trước đã.
Hãy tấn công Pazardzhik, cách đó 30 km. Chúng ta đã nắm rõ tình hình ở đó, ba ngàn quân đóng giữ đều là người Ottoman, sức chiến đấu rất bình thường, chúng ta liên hiệp ăn tươi bọn họ không khó.
Nếu địch có bẫy, thì lúc này cũng sẽ bại lộ, họ không thể bố trí một vòng vây 30 km được.
Nếu không có bẫy, chúng ta sẽ đi đường tắt tiến thẳng tới Plovdiv. Quân địch xung quanh đều bị thu hút đến Pazardzhik, chúng ta đánh úp tỷ lệ thành công sẽ rất cao."
Dimiter suy nghĩ một chút rồi nói: "Đây đúng là một biện pháp tốt, có thể giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất. Bất quá, việc tấn công hai nơi cùng lúc sẽ tạo áp lực quá lớn cho đội du kích.
Xem ra cần phải liên lạc với Boris và đồng bọn, để họ phụ trách tấn công Pazardzhik, đánh vỡ thế cục, chúng ta sẽ giúp một tay đánh quân cứu viện.
Khi quân địch từ Plovdiv và Asenovgrad vừa ra khỏi thành, liền xử lý trước bọn chúng, giảm độ khó cho việc công thành."
Đây không phải là lần đầu tiên đội du kích Bulgaria công thành, nhưng đây là lần phản công lớn đầu tiên của họ sau khi bị đánh tan trong hội chiến Sofia.
Sau hơn hai tháng chỉnh đốn, họ đã khôi phục nguyên khí, dù chưa đạt đến đỉnh cao, nhưng lòng tin đã được khôi phục.
Xét về mặt này, quân Sardin cũng có công lao. Nếu không phải họ tạo cơ hội cho người Bulgaria, thì giờ này những đội du kích này vẫn còn đang chiến đấu sống chết với liên quân trên chiến trường.
Ước chừng lúc này, họ đã sớm thương vong thảm trọng. Gấu Nga không phải là dễ chọc, ngay từ đầu đã coi đội du kích là pháo thí. Ra lệnh cho đội du kích Bulgaria xé toạc phòng tuyến của liên quân, xen kẽ đến phía sau để tiền hậu giáp kích liên quân, rõ ràng là muốn mượn dao giết người.
Đáng tiếc, kế hoạch không theo kịp sự thay đổi, ai mà biết quân Sardin lại nhát gan đến vậy, không ngờ lại bị đội du kích Bulgaria đánh xuyên qua trận địa, xen kẽ đến phía sau.
Người Nga căn bẫn không tin đội du kích có thể làm được, không kịp thời tiếp ứng, đánh mất một cơ hội giành chiến thắng.
