Kế hoạch không bao giờ đuổi kịp thực tế, mục đích ban đầu của chính phủ Vienna chỉ là tạo ra xung đột, dùng uy thế quân sự ép chính phủ Ai Cập ký kết hiệp ước.
Bán đảo Sinai vốn không được coi trọng, tác dụng duy nhất là làm vùng đệm giữa đế quốc Ottoman và Ai Cập, nơi các bộ lạc thổ dân chịu sự quản lý của cả hai bên.
Xung đột thì đã tạo ra, nhưng với những tính toán sai lầm, vùng đất cũng đã bị chiếm đóng. Người Ai Cập không có hành động quá khích, chỉ cử người đến phản đối.
Nếu có thể, Franz thà rằng người Ai Cập tấn công, như vậy mọi chuyện sẽ dễ giải quyết hơn, bởi vì đơn đấu với Ai Cập, anh không hề áp lực.
Rõ ràng, chính phủ Ai Cập không hề ngốc nghếch mà xông lên, thay vào đó, họ phái người đến thương lượng. Uy hiếp quân sự lúc này không còn phù hợp.
Franz luôn coi trọng "tướng ăn", việc tạo ra một cái cớ để gây sự đã vượt quá giới hạn của anh, lương tâm anh cảm thấy rất cắn rứt.
Bây giờ người ta đã tạm thời cho mình chiếm đóng một phần lãnh thổ, mà mình còn đi gây sự thì thật quá đáng.
Về nguyên nhân, chính phủ Ai Cập không quan tâm, bất kể ai đúng ai sai, cứ dính đến người trong cuộc là coi như xong. Người chết thì nợ cũng tiêu. Bây giờ quân Áo chỉ cần rút lui, không cần bồi thường gì cả.
Franz nhức đầu hỏi: "Các khanh thấy vấn đề này nên giải quyết thế nào?"
Anh thừa nhận mình không đủ tàn nhẫn để làm những chuyện bá đạo như vậy. Nếu có thể, anh vẫn muốn giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình hơn.
Tiếc là Áo không có đủ ảnh hưởng ở Ai Cập để cạnh tranh với Anh và Pháp, nên đành phải dùng hạ sách này, tìm kiếm đột phá ở bán đảo Sinai.
Metternich bình tĩnh đáp: "Bệ hạ, bản thân bán đảo Sinai không có giá trị lớn. Chúng ta chiếm nơi này chủ yếu là để giành thế chủ động, có thể can thiệp vào việc đào kênh đào Suez.
Nếu chính phủ Ai Cập muốn đàm phán, chúng ta cứ bàn bạc với họ. Cùng lắm thì bỏ tiền ra mua những vùng đất đó, dù sao cũng chỉ là cát sỏi, chẳng đáng bao nhiêu.
Hiện tại Anh và Pháp chưa biết mục đích của chúng ta, dù có can thiệp cũng chỉ lo chúng ta tiếp tục bành trướng thế lực ở Ai Cập, ảnh hưởng đến lợi ích của họ.
Chúng ta có thể đảm bảo với họ rằng sẽ không tiếp tục tìm cách mở rộng ở Ai Cập. Còn về vấn đề bán đảo Sinai, chúng ta cũng là cường quốc, cần phải giữ thể diện chứ!"
Tuy cách làm có hơi quá đáng, nhưng ở đây thực lực mới là tất cả. Vô luận đúng sai, khi xâm chiếm thuộc địa, các cường quốc đều hành xử rất bá đạo.
Việc chính phủ Vienna chịu chi một khoản tiền tượng trưng, chính là để chính phủ Ai Cập có đường xuống. Nếu họ không đồng ý, ta cứ chiếm đất không đi, xem họ làm gì được?
Chẳng lẽ vì một mảnh sa mạc không có gì mà đánh nhau với Áo ở bán đảo Sinai? Chắc chính phủ Ai Cập không có gan đó, vạn nhất thua trận, phải bồi thường của cải, thì chỉ có nước bị xâu xé!
Đừng nhìn chính phủ Ai Cập đang chuẩn bị hiện đại hóa đất nước, có vẻ như cường thịnh. Trên thực tế, sau thất bại trong cuộc chiến với đế quốc Ottoman lần trước, họ đã nhận ra thực lực của mình.
Thủ tướng Felix nhắc nhở: "Người Pháp đã giành được quyền khai thác kênh đào Suez, liệu việc này có cản trở chúng ta không?"
Metternich giải thích: "Không cần lo lắng, việc chúng ta chiếm bán đảo Sinai không có nghĩa là phải chiếm toàn bộ, chỉ cần có một điểm dừng chân trên đó là đủ.
Hiện tại kênh đào Suez còn chưa khởi công, tương lai có thể thông tàu hay không vẫn là một ẩn số, chúng ta chỉ đang tính toán trước thôi.
Theo tôi được biết, người Anh đang kịch liệt phản đối việc đào kênh đào Suez. Vị trí địa lý của họ thuận lợi, có thể đi vòng qua mũi Hảo Vọng để vào Ấn Độ Dương, không cần con kênh này."
Vào thời điểm đó, người Anh có thái độ rất lạnh nhạt với kênh đào Suez. Nhiều người cho rằng việc kênh đào Suez đi vào hoạt động sẽ làm suy yếu lợi thế thương mại đường biển của họ.
Xét về khoảng cách, kênh đào Suez rõ ràng có lợi cho các quốc gia Địa Trung Hải hơn. Pháp, Áo, Tây Ban Nha sẽ có đường vào Ấn Độ Dương gần hơn.
Những tuyến đường biển vốn gần họ, nay lại trở nên xa hơn so với đối thủ cạnh tranh. Điều này chắc chắn sẽ khiến chỉ phí vận chuyển hàng hóa đường biển của Anh cao hơn, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường.
Dù có phải là lo bò trắng răng hay không, ý thức về nguy cơ luôn luôn đúng. Chính ý thức này đã giúp đế quốc Anh đi đến ngày nay.
Việc kênh đào Suez có thể thông tàu hay không, không chỉ người Anh nghi ngờ, mà ngay cả trong chính phủ Áo cũng có nhiều người tỏ ra hoài nghi.
Châu Âu chưa từng có một con kênh nào dài đến vậy, con số 190 cây số vượt quá sức chịu đựng của mọi người.
Franz cũng không thể thuyết phục tất cả tin rằng kênh đào Suez nhất định sẽ thông tàu. Ngay cả khi thông tàu, khả năng vận chuyển hàng hóa của nó cũng là một thử thách.
Nếu chỉ có thể cho một số tàu nhỏ đi qua, thì coi như thất bại. Vì mục đích chiến lược, Áo cần kênh đào Suez có thể cho tàu bè từ bốn mươi ngàn tấn trở lên đi qua.
Nếu không, đến thời đại Dreadnought, con kênh này sẽ trở nên vô dụng. Đến lúc đó, việc mở rộng con kênh sẽ gặp phải sự cản trở của người Anh, khiến chiến hạm Áo chỉ có thể đi qua eo biển Gibraltar, từ đó tạo ra lợi thế chiến lược cho họ.
Franz khẳng định: "Không cần lo lắng về việc thông tàu. Sử sách ghi lại vào thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên, ở phương Đông có một đế quốc nhà Tùy đã đào một con kênh lớn nối liền Bắc Nam, dài hơn 2700 cây số.
Dù đã trải qua biến đổi địa lý và thay đổi tuyến đường, con kênh đào hiện tại vẫn dài 1797 cây số, và vẫn có thể cho tàu bè 500 tấn đi lại bình thường.
Với kỹ thuật của người xưa, không cần bất kỳ máy móc nào, họ vẫn có thể dùng sức người để đào một con kênh dài như vậy. Chẳng lẽ trình độ khoa học kỹ thuật của chúng ta bây giờ lại không đào nổi một con kênh chưa đến 200 cây số sao?
Xét về địa hình, độ khó thi công của kênh đào Suez còn kém xa so với con kênh Bắc Nam, có gì phải lo lắng?".
Thủ tướng Felix kinh ngạc: "Bệ hạ, ngài chắc chắn ở phương Đông có một con kênh dài như vậy?"
Franz đáp chắc chắn: "Đương nhiên, chẳng lẽ khanh cho rằng ta nói dối sao? Con kênh đó vẫn còn hoạt động bình thường, nó nằm ở cái đế quốc Mãn Thanh mục nát đó, các khanh cứ đi tìm tài liệu mà xem."
Thủ tướng Felix vội vàng giải thích: "Không, thần không có ý hoài nghi ngài.
Chỉ là cảm thấy điều này quá khó tin, hơn 1200 năm trước đã có người đào một con kênh dài hơn 2700 cây số.
Nếu đó là sự thật, thì đó phải là công trình vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Đế quốc đó hẳn phải rất hùng mạnh mới có thể hoàn thành một công trình khổng lồ như vậy."
Franz cười mà không nói gì. Anh không thể giải thích rằng vì đào con kênh đó, dân chúng bị bóc lột quá mức, khiến đế quốc đó diệt vong chỉ sau hai đời.
Nhưng mà, hoàn toàn không cần lo lắng. Việc đào kênh đào Suez không cần huy động lao động từ Áo, chỉ cần chuẩn bị tiền là được.
Thậm chí trả bằng lương thực cũng được, dù sao trừ nhân viên kỹ thuật và quản lý cần trả lương, thì lao động phổ thông chỉ cần nuôi cơm là đủ.
Khoản chi phí nhân công lớn nhất cứ thế mà được tiết kiệm. Trong lịch sử, kênh đào Suez tiêu tốn mười tám triệu sáu trăm ngàn bảng Anh, vượt quá dự toán gấp đôi.
Nguyên nhân chủ yếu là do người Anh kích động nô lệ lao động nổi dậy, tạo áp lực dư luận khiến người Pháp phải trả lương thuê người, làm chỉ phí thì công tăng lên đáng kể.
Cái giá đắt để kênh đào Suez đi vào hoạt động là 120.000 lao động đã chôn xương ở đó.
Vấn đề này không nằm trong phạm vi cân nhắc của chính phủ Áo. Franz cũng quyết định nhắm mắt làm ngơ, thời đại này bất kỳ công trình lớn nào cũng được xây dựng bằng xương máu.
Mạng lưới đường sắt rộng lớn của Áo là một ví dụ. Chỉ trong vòng năm, sáu năm ngắn ngủi, đường sắt của Áo đã vươn lên hàng đầu châu Âu, đằng sau đó là hàng chục ngàn lao động đã ngã xuống.
Có thể nói, thời đại này tốc độ thi công càng nhanh thì thương vong càng lớn, hiệu quả đều được xây dựng bằng xương máu.
Luân Đôn
Khi nhận được tin Áo ra tay ở bán đảo Sinai, phản ứng đầu tiên của nội các Anh là: Người Áo muốn xâm chiếm Ai Cập, phải ngăn chặn!
Thủ tướng Granville nghi ngờ hỏi: "Ai nói cho tôi biết người Áo đang làm gì vậy? Chẳng lẽ chính phủ Vienna bị úng não, phải chạy đến bán đảo Sinai để ăn cát?"
Xét về bề ngoài, bán đảo Sinai không có bất kỳ giá trị thuộc địa nào. Vùng đất giàu có nhất của Ai Cập đều nằm ở lưu vực sông Nile, cách bán đảo Sinai hàng trăm cây số, ở giữa là sa mạc, muốn bắc cầu cũng không xong.
Ngoại trưởng John Russell cười nói: "Nghe nói đó là hành động của một nhóm dân quân thuộc địa tư nhân của Áo. Ban đầu họ định gây sự ở Ai Cập, nhưng phát hiện thực lực bản thân không đủ.
Để thu hồi chỉ phí thuộc địa, họ liền chạy đến bán đảo Sinai cướp bóc một bộ lạc, và chiếm một thành phố bỏ hoang."
Bộ trưởng thuộc địa William chế giễu: "Đám dân quân thuộc địa nghiệp dư này chắc chắn là không có đầu óc, hoặc là chiến lợi phẩm họ thu được còn chưa đủ trả tiền bồi thường cho nhân viên.
Chúng ta đã sớm phái người trinh sát bán đảo Sinai rồi. Trên đảo chỉ có lạc đà, dê và không có gì khác.
Số lạc đà và dê đó không đáng bao nhiêu tiền, trừ khi họ có thể chở về nước để bán, còn ở đó thì chỉ có thể bán da lông.
Dân bản xứ nghèo đến mức sắp chết đói, chính phủ Ai Cập còn chẳng buồn phái người đến thu thuế, lại còn có người đi cướp đoạt họ."
Mọi người cười ồ lên. Những chuyện như vậy không phải hiếm trong phong trào thuộc địa. Những đội dân quân tư nhân mới tham gia thuộc địa thường phạm phải những sai lầm như vậy.
Dê và lạc đà đúng là hàng hóa, ở một số nơi còn rất có giá trị, tiếc là ở bán đảo Sinai thì không đáng một xu, vì không có ai mua.
Cùng lắm thì giết gia súc, mang da lông đi bán cho thương nhân áo lông. Muốn chở gia súc ra ngoài bán, chắc còn không đủ trả phí vận chuyển.
Cười đủ rồi, Granville nói: "Vậy Bộ Ngoại giao tiếp tục theo dõi chính phủ Vienna, xem bước tiếp theo họ sẽ làm gì, rồi chúng ta sẽ quyết định biện pháp đối phó.
Dù sao ở Ai Cập, người Pháp có lợi ích lớn nhất. Nay có thêm một đối thủ cạnh tranh, cứ để họ nhức đầu trước đi!"
Từ đầu đến cuối, Granville không coi đây là chuyện gì to tát. Thuộc địa là một trò chơi, một trò cướp đoạt tài sản, khác hoàn toàn với tình hình ở châu Âu.
Chỉ cần không đe dọa đến Ấn Độ, chính phủ Luân Đôn sẽ không có phản ứng thái quá ngay lập tức. Nếu không, ngày nào cũng có tin xung đột thuộc địa, họ tức chết mất.
Đây không phải là đùa. Bước vào thế kỷ 19, trung bình mỗi năm chính phủ Luân Đôn phải đối mặt với hơn trăm vụ xung đột thuộc địa.
Trong đó, phần lớn các xung đột nhỏ đều do quan chức thuộc địa giải quyết. Chỉ khi xung đột leo thang, họ mới phải tự mình xử lý.
Nếu không học được cách kiềm chế, động một chút là dùng vũ lực, thì chưa đầy ba tháng, họ sẽ phải đánh nhau với toàn bộ các đế quốc thuộc địa ở châu Âu.
Họ chú ý đến vấn đề bán đảo Sinai chủ yếu là lo ngại Áo xâm chiếm Ai Cập. Sau khi xác định đó là hành động của dân quân tư nhân, sự quan tâm của họ giảm đi đáng kể.
Có thể tham khảo các đội dân quân thuộc địa tư nhân của Anh. Một số đội hùng mạnh như Công ty Đông Ấn đã tiêu diệt vài quốc gia ở nước ngoài mà chính phủ Luân Đôn còn chưa biết tin.
Còn những tổ chức dân quân yếu hơn, hôm nay cướp bóc một khu vực, ngày mai lại cướp một khu vực khác, hậu thiên chọc phải kẻ thù lớn, bị tiêu diệt...
Những chuyện như vậy xảy ra quá nhiều. Nếu có lợi, chính phủ Anh sẽ ra mặt ủng hộ họ. Nếu không có lợi ích, dù bị tiêu diệt, chính phủ Luân Đôn cũng không thèm để ý, cũng không quản được.
...
Paris
Napoléon III tự tin nói: "Người Áo đang đưa vòi bạch tuộc vào Ai Cập, chúng ta có nên chặt đứt nó ngay lập tức không?"
Pháp có ảnh hưởng không nhỏ ở Ai Cập. Chỉ cần xúi giục chính phủ Ai Cập đuổi người Áo đi là được.
Dĩ nhiên, có lẽ chính phủ Ai Cập sẽ không nghe họ. Dù sao trong cuộc chiến với Ottoman lần trước, chính phủ Ai Cập đã bị người Pháp lừa thảm rồi.
Hứa hẹn viện trợ, nhưng dưới áp lực của các nước châu Âu, chính phủ Paris đã sợ hãi. Không có vũ khí viện trợ của họ, chính phủ Ai Cập nhanh chóng bị đế quốc Ottoman đánh bại.
Ngoại trưởng Auvergne khuyên: "Bệ hạ, hay là cứ đàm phán trước đi! Chúng ta có thể hòa giải cuộc xung đột này. Nếu cuối cùng không đạt được thỏa thuận, thì mới chọn biện pháp cực đoan.".
Ông không tự tin như Napoléon III, nghĩ rằng chỉ cần xúi giục chính phủ Ai Cập xông lên là mọi chuyện sẽ được giải quyết.
Nếu tình hình vượt khỏi tầm kiểm soát, chính phủ Vienna không chịu thua, đánh cho chính phủ Ai Cập một trận, thì họ có ra tay hay không?
Chính phủ Pháp vừa trải qua một cuộc chiến với người Nga, tổn thất nặng nề, không muốn đánh nhau với Áo. Không ai muốn làm những việc thua lỗ như vậy.
Napoléon III chỉ nói vậy thôi, chứ không thực sự muốn mạo hiểm. Bây giờ ông đã có địa vị, không còn là chàng trai trẻ dám đánh cược mọi thứ nữa.
Chiến tranh Crimea cho ông biết rằng Pháp bây giờ không còn là nước Pháp có thể đánh khắp châu Âu nữa.
Napoléon III gật đầu: "Vậy cứ để Bộ Ngoại giao ra mặt hòa giải cuộc xung đột này, chỉ cần không gây tổn hại đến lợi ích của chúng ta là được!"
