Logo
Chương 272: Bảo hộ kinh tế

Việc phát triển thuộc địa chỉ tiêu tốn một phần nhỏ tinh lực của chính phủ Vienna, trọng tâm hiện tại vẫn là ở trong. nước.

Lẽ ra, sau khi chiến tranh Cận Đông kết thúc, tốc độ phát triển kinh tế của Áo phải chậm lại, nhưng kinh tế thị trường tư bản tự do thường phi lý tính.

Nền kinh tế của toàn bộ Đế quốc La Mã Thần thánh mới giống như một cỗ xe ngựa mất kiểm soát, lao về phía trước. Lúc này phanh xe đã không kéo lại được, chỉ có thể nhìn cỗ xe ngựa trên con đường không lối về càng chạy càng xa.

Chính phủ can thiệp vào kinh tế thị trường? Franz không muốn và cũng không gánh nổi cái nồi khủng hoảng kinh tế nổ tung trên lưng.

Tổng năng suất của chủ nghĩa tư bản thế giới đang dư thừa, điều này quyết định dù có chọn biện pháp nào đi nữa, khủng hoảng kinh tế vẫn sẽ bùng nổ.

Việc lựa chọn các biện pháp chỉ có thể kéo dài thời gian khủng hoảng, và thời gian kéo dài càng lâu, sức tàn phá càng lớn.

Đây không chỉ là vấn đề của riêng Đế quốc La Mã Thần thánh mới, mà liên quan đến tất cả các quốc gia tư bản chủ nghĩa. Chỉ khi mọi người cùng nhau can thiệp vào thị trường, mới có thể vững vàng vượt qua nguy cơ.

Tại cuộc họp kinh tế ở Vienna,

Franz lấy ra một phần văn kiện phát cho mọi người, nghiêm túc nói: "Đây là báo cáo kinh tế mới nhất, mọi người xem kỹ đi.

Tình trạng đầu tư mù quáng trong nước ta vô cùng nghiêm trọng, nhiều ngành công nghiệp xuất hiện tình trạng dư thừa năng suất, một lượng lớn sản phẩm bị tồn kho.

Trong ngắn hạn, chúng ta không thể tìm được một thị trường mới để tiêu thụ hết lượng năng suất dư thừa này.

Việc khai phá bán đảo Balkans và các thuộc địa châu Phi có tiêu thụ được một phần năng suất.

Nhưng tốc độ tăng trưởng thị trường mới còn kém xa so với sự điên cuồng của thị trường tư bản trong nước.

Tình hình ở nước ngoài cũng tương tự, các quốc gia tư bản chủ nghĩa lớn đều xuất hiện tình trạng dư thừa năng suất ở các mức độ khác nhau. Trước mắt, tình hình của chúng ta và nước Mỹ là nghiêm trọng nhất.

Đây là cái giá phải trả khi ồ ạt thu hút đầu tư nước ngoài. Một khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ, tư bản Anh, Pháp chắc chắn sẽ rút vốn tháo chạy. Nếu chúng ta không thể xử lý thỏa đáng, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng."

Bộ trưởng Tài chính Kar nói: "Bệ hạ, tư bản tự do lưu thông, chúng ta không thể trực tiếp can thiệp. Biện pháp tốt nhất bây giờ là hướng họ đầu tư vào kinh tế thực.

Khi tư bản biến thành nhà máy, đường sắt, cơ sở hạ tầng, họ sẽ khó rời đi."

Khi tư bản biến thành bất động sản, muốn rời đi phải chịu thiệt hại lớn. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, những tài sản này đều mất giá, thậm chí không tìm được người mua.

Không ai mua, số vốn đầu tư vào đó sẽ bị "giam" lại, muốn thoát ra chỉ có thể chờ kinh tế ấm lên!

Nhưng khi kinh tế ấm lên, nhiều tài sản trong số đó sẽ trở thành tài sản tốt, các nhà tư bản lại không nỡ vứt bỏ.

Thủ tướng Felix cau mày nói: "Làm như vậy hậu hoạn quá lớn, việc cho phép nhiều tư bản ngoại lai đầu tư vào kinh tế thực sẽ khiến tình trạng dư thừa năng suất càng thêm nghiêm trọng.

Ngay cả khi giữ chân được số vốn này, nó cũng sẽ làm tăng quy mô khủng hoảng kinh tế, và cuối cùng chúng ta vẫn phải gánh chịu hậu quả."

Bộ trưởng Tài chính Karl giải thích: "Bất cứ chuyện gì cũng có hai mặt. Nếu muốn giảm thiểu nguy cơ ở mức cao nhất, tốt nhất là để họ đầu tư vào cơ sở hạ tầng thành phố.

Ví dụ: Chúng ta đang thúc đẩy dự án nước sạch cho thành phố, xây dựng lại hệ thống thoát nước, xây dựng đường xá...

Những ngành này không có tình trạng dư thừa năng suất. Đế quốc La Mã Thần thánh mới có hơn ba trăm thành phố. Vì ngân sách chính phủ có hạn, hiện tại chúng ta chỉ tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn.

Những khu vực này có thể chứa một lượng lớn vốn, nhưng một khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ, các nhà tư bản đứt gãy dòng tiền, sẽ xuất hiện nhiều công trình đở dang, và chính phủ sẽ phải vào cuộc."

Thủ tướng Felix lo lắng hỏi: "Việc tiếp quản là chuyện nhỏ, vấn đề lớn nhất là việc xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố thường do chính phủ chi trả, những dự án này về cơ bản không có lợi nhuận.

Muốn các nhà tư bản đầu tư, trước tiên phải cho họ thấy được điểm có lợi. Dự án nước sạch thì không nói, nhà máy nước có thể thu tiền nước, còn những cơ sở hạ tầng khác dựa vào đâu để có lợi nhuận?"

Bộ trưởng Tài chính Karl giải thích: "Đương nhiên là không có điểm lợi nhuận. Đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng quá lớn, hơn nữa phần lớn dự án đều mang tính công ích, muốn kiếm tiền từ bản thân dự án là không thể.

Vì vậy, chúng ta phải tiến hành gián tiếp, ví dụ: Mời thầu công khai, chính phủ chỉ chi ra một phần nhỏ tiền ban đầu, để các nhà tư bản cung cấp vốn xây dựng. Sau khi công trình hoàn thành và được nghiệm thu, chúng ta sẽ thanh toán tiền công trình.

Những công trình này không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, số lượng đầu tư lại rất lớn. Một khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ, ngân hàng thắt chặt tín dụng, phần lớn các nhà tư bản sẽ bị đứt liên kết kinh tế.

Chỉ cần ghi rõ trong hợp đồng rằng chúng ta sẽ không trả tiền cho các công trình dở dang, chúng ta có thể tiết kiệm được rất nhiều vốn.

Nếu các tập đoàn tài chính đứng sau những nhà đầu tư đó chịu đầu tư tiếp để hoàn thành những công trình này thì còn gì bằng.

Tư bản mới tràn vào, những dự án này có thể tiếp tục thi công, chắc chắn sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, và chúng ta sẽ vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế này.

Ngược lại, khoản tiền xây dựng cơ sở hạ tầng này sớm muộn cũng phải chi ra, có thể vững vàng vượt qua một cuộc khủng hoảng kinh tế, chúng ta vẫn có lợi."

Franz sáng mắt lên, đây chẳng phải là phiên bản chính sách kinh tế mới của Roosevelt sao? Chỉ có điều quy mô không lớn như vậy, và điểm xuất phát ban đầu không phải vì vượt qua khủng hoảng kinh tế, mà là để bảo hộ đầu tư nước ngoài.

Không sai, chính là bảo hộ. Các công trình cơ sở hạ tầng, một khi tiền đã đổ vào, sẽ bị "giam" lại. Trước khi thành công, đừng mong chính phủ Vienna sẽ trả tiền trước.

Hoặc là các nhà tư bản cùng Áo vượt qua khó khăn, cùng nhau chống chọi cuộc khủng hoảng kinh tế này; hoặc là cắt lỗ rời đi, toàn bộ khoản đầu tư trước đó sẽ trôi theo dòng nước.

Để giảm bớt thiệt hại do khủng hoảng kinh tế gây ra, việc kéo người khác xuống nước là lựa chọn tốt nhất. Tình huống tồi tệ nhất là để lại đầy công trình dở dang, và chính phủ Vienna chịu trách nhiệm tiếp quản.

Trước đây Franz đã có thể dụ các nhà tư bản nhảy vào hố đường sắt, bây giờ đương nhiên không ngại để họ nhảy vào hố xây dựng cơ sở hạ tầng.

Thực ra đây cũng không thể coi là hố, trong thời kỳ kinh tế phát triển bình thường, đây đều là những dự án tốt, không có bất kỳ tính chất lừa đảo nào.

Suy nghĩ một lúc, Franz cảnh cáo: "Kế hoạch rất tốt, nhưng phải chú ý nắm chắc mức độ.

Phải đảm bảo những người trúng thầu đều là những nhà tư bản có thực lực. Nếu để một đám người không có thực lực nhưng có quan hệ "vớ bẫm" được dự án, cuối cùng người bị hại chính là chúng ta.

Giữ chân đầu tư nước ngoài chỉ là thủ đoạn, không phải mục đích. Mục đích cuối cùng của chúng ta là vững vàng vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế này.

Theo tình hình hiện tại, chủ nghĩa tư bản thế giới đang xuất hiện tình trạng sản xuất thừa nghiêm trọng, khủng hoảng kinh tế bùng nổ chỉ là vấn đề trong vòng một, hai năm tới.

Khi cần thiết, có thể áp dụng chế độ tiền đặt cọc. Để các nhà tư bản nhận thầu những dự án này nộp trước một khoản tiền bảo đảm công trình, sau khi công trình hoàn thành thuận lợi sẽ được hoàn trả."

Khủng hoảng kinh tế bùng nổ, ngoài sản xuất thừa, còn có một đặc điểm là thị trường thiếu tiền. Vốn tập trung vào tay một số ít người, dẫn đến vốn lưu động không đủ.

Bây giờ là thời đại bản vị vàng, không thể in thêm tiền một cách ồ ạt. Trừ khi khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng đến mức không thể chịu đựng được, Franz sẽ không tiến hành phá giá tiền tệ.

Vì vậy, việc cố gắng giữ chân tư bản ở lại trong nước là vô cùng quan trọng. Các biện pháp cưỡng chế giám sát quản lý tài chính, cấm tư bản chảy ra là những biện pháp tồi tệ nhất.

Không thể thay đổi quy tắc, vậy thì tuân thủ quy tắc là điều cần thiết. Việc mù quáng phá vỡ quy tắc chắc chắn sẽ bị trả giá.

Là một thành viên trong hệ thống quy tắc, Franz không cho rằng việc phá vỡ quy tắc là phù hợp để Áo thực hiện.

Muốn giữ chân đầu tư nước ngoài trong phạm vi quy tắc, Franz không hy vọng đám quý tộc "cậu ấm cô chiêu" trong nước chạy đến gây rối. Nếu họ có thực lực thì không nói, nếu không có tiền mà chạy đến nhận dự án thì chẳng phải hại người hại mình sao?

Đây không phải là chuyện đùa, mà là sự thật. Các gia tộc quý tộc có tiền, không có nghĩa là mỗi thành viên trong gia đình đều có tiền. Nhiều con em quý tộc trên thực tế chỉ được chia một phần nhỏ tài sản.

Đất đai, tước vị, ngành kinh doanh cốt lõi sẽ không được chia, nếu không sau vài thế hệ, những gia tộc này sẽ suy tàn.

Thường thì người con trai trưởng thừa kế gia nghiệp có đủ tài sản, sẽ không ra ngoài gây rối. Những người con thứ không có nhiều tài sản thường hoạt động trong các lĩnh vực "xám xịt".

Franz đã gặp nhiều "cậu ấm" thích chơi ngông như vậy. Trong cuộc đại cách mạng năm 1848, không biết có bao nhiêu gia tộc quý tỘc bị diệt vong vì những đứa con này chơi ngông, làm liên lụy đến gia tộc.

Sau đó, các gia tộc quý tộc lớn đã tăng cường việc ước thúc con em, những người con em quý tộc muốn "làm ăn" thường bị các gia trưởng trấn áp tàn khốc.

Trong những năm gần đây, họ tỏ ra tương đối ngoan ngoãn, dù sao họ đã trải qua cuộc đại cách mạng, một phần ba quý tộc trong nước đã từ bỏ tước vị, một nửa gia tộc vì vậy mà suy tàn, tất cả mọi người đều có lòng kính sợ.

Bộ trưởng Tài chính Karl nghi ngờ hỏi: "Bệ hạ, tiền đặt cọc là gì?"

Không phải vì ông ta vô tri, mà vì thời đại này căn bản không có khái niệm tiền đặt cọc. Chế độ bảo đảm sớm nhất cũng phải bốn mươi năm sau mới xuất hiện.

Khái niệm vượt thời đại như vậy, không hiểu mới là bình thường. Mọi người đã quen với việc Franz hay đưa ra những ý tưởng mới lạ.

Franz giải thích: "Rất đơn giản, là để người trúng thầu nộp một khoản tiền, dùng làm tiền đặt cọc để đảm bảo dự án có thể hoàn thành thuận lợi.

Bao gồm bảo đảm thanh toán lương cho công nhân, bảo đảm chất lượng công trình, bảo đảm công trình hoàn thành bình thường. Sau khi công trình hoàn thành thuận lợi, lương công nhân được thanh toán rõ ràng, chính phủ sẽ hoàn trả toàn bộ tiền bảo đảm."

Thủ tướng Felix hỏi: "Bệ hạ, số tiền này có phải trừ vào tiền công trình không?"

Franz lắc đầu nói: "Không giống nhau. Trừ vào tiền công trình không thể xác định được thực lực vốn của nhà tư bản.

Họ hoàn toàn có thể cầm hợp đồng ký với chính phủ đi vay ngân hàng, dựa vào tiền vay ngân hàng để hoàn thành dự án.

Nếu trong thời kỳ bình thường thì không sao, sẽ không ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án, nhưng khi gặp khủng hoảng kinh tế, ngân hàng thắt chặt tín dụng thì tình hình sẽ khác.

Mục đích của chúng ta bây giờ là giữ chân đầu tư nước ngoài, không phải tạo cơ hội làm giàu cho một số người. Nếu dự án dở dang, chúng ta sẽ phải giải quyết hậu quả.

Thu một khoản tiền đặt cọc, rủi ro của chúng ta sẽ giảm xuống mức thấp nhất. Nếu các nhà tư bản không muốn chịu khoản lỗ này, họ sẽ phải cùng chúng ta vượt qua khó khăn."

Đây là vấn đề tâm lý, tư bản đầu tư càng nhiều, người ta càng khó buông tay. Bảo hộ tư bản càng lớn, lợi ích của các nhà tư bản và Áo càng gắn chặt.

Để số vốn đã đầu tư không bị "đổ xuống sông xuống biển", các nhà tư bản chỉ có thể rút thêm vốn để "lấp hố", đảm bảo dự án được thực hiện bình thường.