Năm 1859, người Anh chiếm đóng Queensland, đồng nghĩa với việc toàn bộ Australia rơi vào tay thực dân Anh.
Nhìn người Anh chiếm lĩnh Gold Coast, Franz chỉ biết lực bất tòng tâm. Với Áo, châu Úc quá xa xôi, căn bản không đủ sức tranh đoạt.
Trên thế giới này, chỉ có Pháp đủ sức tranh giành châu Úc với Anh, nhưng rõ ràng Napoléon III không hứng thú với lục địa lưu vong này.
Người Pháp cũng chẳng rảnh rang, họ đang gấp rút thôn tính vương quốc Sardinia. Phần lớn lãnh thổ giáp Pháp đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Pháp.
Lực lượng gìn giữ hòa bình quá mỏng, quân đội các nước cam kết viện trợ cũng không kịp đến, chỉ khống chế được khu vực Torino.
Trước hành động thôn tính của Pháp, ngoài Anh và đám "tiểu đệ" ra sức kêu gào, Nga bằng quan xem kịch, còn Áo thì bận truy bắt hung thủ, chẳng đoái hoài đến hành động của quân Pháp.
Chính phủ Luân Đôn giận tím mặt, nhưng còn phải dốc sức dập tắt cuộc nổi dậy ở Ấn Độ, không thể tập trung can thiệp.
Việc chính phủ Pháp thân Anh chỉ là giả dối, nó được xây dựng trên điều kiện tiên quyết là không có xung đột lợi ích. Vương quốc Sardinia lại là một miếng mỡ béo bở, mà lại không mấy nguy hiểm.
Cơ hội mở rộng lãnh thổ ở châu Âu quá hiếm hoi, một khi bỏ lỡ, có lẽ cả đời Napoléon III cũng không gặp lại.
Còn chuyện đắc tội người Anh ư? Mối thù trăm năm giữa Anh và Pháp đâu phải chuyện đùa, sợ gì thêm một khoản nữa?
Bây giờ họ chỉ đang "tằm ăn rỗi", chưa nuốt trọn vương quốc Sardinia, coi như là nể mặt người Anh.
Trong khi bành trướng ở châu Âu, Pháp còn gia tăng sự hiện diện ở châu Phi, ví dụ như xâm lược Morocco, Algérie, Tunisia.
Cũng trong năm 1859, Tây Ban Nha không cam tâm suy yếu đã xuất binh năm mươi ngàn quân xâm lược Morocco, chiếm đóng các vùng đất áp sát Tangier. Dưới sự hòa giải của Anh, hai nước ký kết 《Hiệp ước Tétouan》.
So với các nước khác, năm đó Áo tỏ ra khá yên phận. Dĩ nhiên, họ vẫn mở rộng thuộc địa, nhưng chỉ là những động thái thông thường, không có hành động quân sự lớn.
Động thái lớn nhất có lẽ là việc điên cuồng chuyển di dân sang các quốc gia châu Mỹ.
Đáng chú ý là trong năm đó, Franz đã tổ chức ba lễ quốc tang, trong đó hai lần theo nghỉ thức cao nhất.
Đầu tiên là Thống chế Radetzky qua đời, ngay sau đó Metternich cũng "lên đường", rồi Thống chế Julius cũng về với Chúa.
Việc tổ chức quốc tang cho Thống chế Radetzky là điều dễ hiểu, ông đức cao vọng trọng, không ai phản đối.
Nhưng Metternich, vì cuộc nổi dậy Vienna năm 1848, đã vướng phải vết nhơ trong sự nghiệp chính trị. Thêm vào đó, việc chấp chính quá lâu khiến ông đắc tội không ít người.
Khi ông còn sống, những người này không dám hó hé, nhưng khi ông qua đời, rất nhiều kẻ đã nhảy ra. Họ viện đủ lý do, cho rằng ông không xứng với quốc tang theo nghi thức cao nhất.
Dù vậy, những "cơn gió nhỏ” này không ảnh hưởng đến quyết định của Franz, ông mạnh mẽ dập tắt tiếng nói phản đối.
Dù chính phủ có tuyên truyền thế nào, danh tiếng "đồ tể" của Thống chế Julius cũng không thể gột rửa. Ông đã chém giết tàn bạo những kẻ nổi loạn, đắc tội vô số người.
Sau khi tin tức về quốc tang được công bố, còn có biểu tình phản đối. Chắc chắn những người này đã hiểu sai vấn đề, cuối cùng bị tống vào ngục giam để tỉnh ngộ.
Việc Franz đối đãi Thống chế Julius theo nghi thức cao nhất là để cho mọi người thấy. Mục đích là để nói với mọi người rằng, chỉ cần làm việc cho ông, dù có mang tiếng xấu, ông – vị hoàng đế này – vẫn sẽ che chở họ.
Trong bối cảnh đó, những kẻ ngu ngốc nhảy ra gây sự đương nhiên phải xui xẻo.
Tổ chức tụ tập trái phép, gây rối trật tự công cộng, gây nguy hiểm cho an toàn xã hội...
Hàng loạt tội danh này cộng lại, đủ để họ "tỉnh ngộ" trong ngục giam vài chục năm. Điều đó gần như tương đương với chung thân, mà với điều kiện hiện tại, hơn chín mươi phần trăm người không sống nổi quá mười năm trong tù.
Những người tham gia "cho vui" cũng bị phê bình, giáo dục, phạt tiền, nếu tình tiết nghiêm trọng sẽ bị kết án.
Những người nhận tiền bạc, vật phẩm để tham gia các hoạt động biểu tình cũng phải đối mặt với khoản tiền phạt lớn, cùng với án tù một năm trở lên.
Đúng vậy, biểu tình cũng có thể là một giao dịch lợi ích. Rất nhiều hoạt động biểu tình không thu hút đủ người tham gia, nên những kẻ tổ chức thường thuê người bình thường tham gia.
Eranz kiên quyết trấn áp loại hành vi này.
Ông trực tiếp quy định rõ trong luật, xử phạt gấp một ngàn lần số tiền thu lợi bất chính, tùy theo mức độ nghiêm trọng có thể bị cải tạo lao động từ một năm trở lên.
Đối với cá nhân hoặc tổ chức thuê người, mức phạt sẽ nhân lên mười lần.
Để chống lại việc các tập đoàn tài chính thao túng chính trị, Franz đã hao tâm tổn trí, liên tục bổ sung các điều luật nhắm vào hành vi này.
Bây giờ là thời kỳ nghiêm trị, những tội phạm có tình tiết không nghiêm trọng về cơ bản đều sẽ bị lưu đày. Còn những trọng phạm có án từ ba năm trở lên đều phải tham gia đội quân sửa đường.
Thời kỳ nghiêm trị, hình phạt nặng là vậy. Gặp phải thì chỉ có thể trách số mình xui xẻo, ai bảo lại gây chuyện vào lúc này?
Hiến pháp tuy chưa ra đời, nhưng mọi người đều biết rằng, những tổ chức và cá nhân có tiền án tiền sự sẽ bị tước quyền tham chính.
Trong việc trấn áp kẻ địch, Franz không hề nương tay. Trong thời đại biến động từng ngày này, nếu không thiết lập trật tự nghiêm khắc, Franz rất nghi ngờ liệu Áo có thể trụ vững.
...
Thị nữ Jenny nhẹ nhàng nói: "Bệ hạ, công binh xưởng lại đưa đến một khẩu súng máy mẫu, mời ngài xem qua."
Eranz bình tĩnh nói: "Được, sắp xếp thử súng vào ngày mai."
Súng máy đã xuất hiện từ lâu. Năm 1851, kỹ sư người Bỉ Gatling đã thiết kế khẩu súng máy đầu tiên trên thế giới, nhưng giá trị thực chiến của nó quá thấp.
Sự ra đời của súng máy Gatling lập tức thu hút sự chú ý của Franz, ông ra lệnh cho công binh xưởng nghiên cứu và cải tiến.
Trước sau đã trải qua bốn năm đời cải tiến. Các kỹ sư đã "vắt óc" để tạo ra hơn ba mươi mẫu súng máy với hình dáng khác nhau.
Tuy nhiên, trong số đó không có mẫu nào làm Franz hài lòng. Không phải ông yêu cầu quá cao, mà thực sự những khẩu súng này quá tệ.
Súng máy không thể di chuyển thì dùng làm gì? Súng máy nặng một chấm năm tấn thì ai mà vác nổi? Súng máy có chỉ phí lên tới hàng chục ngàn thần thuẫn thì ai mà dùng?
Tóm lại, những gì Franz mong muốn - tốt, rẻ - đều không đạt được. Những khẩu súng máy này chỉ miễn cưỡng dùng để thủ cứ điểm, vì góc quay không đủ, chỉ có thể bắn cố định một hướng.
Nghiên cứu kỹ thuật mới là vậy, không có vật tham khảo, hoàn toàn phải mò mẫm tiến lên. Franz mong muốn súng máy Maxim, nhưng hiện tại đến cái bóng cũng không thấy.
Súng máy Gatling thì gần như đã được cải tạo xong, và đã được thử nghiệm thực chiến ở các thuộc địa châu Phi, miễn cưỡng đạt yêu cầu.
Nó chưa được trang bị hàng loạt trong quân đội, chủ yếu là do quân đội các nước cũng chưa trang bị súng máy, và bây giờ lại là thời bình.
Franz vẫn muốn chờ đợi xem liệu có súng máy nào tốt hơn xuất hiện không. Phải biết rằng khẩu súng máy nhẹ nhất bây giờ cũng nặng hơn mấy trăm cân, cần xe kéo đi.
Việc thay đổi trang bị cho quân đội tốn kém vô cùng. Rất nhiều quốc gia có vũ khí trang bị lạc hậu, không phải do đám quan liêu không biết, mà là căn bản không có tiền để thay đổi.
Trong thời đại này, vũ khí trang bị được đổi mới rất nhanh. Vừa mới trang bị vũ khí kiểu mới, vài năm sau đã lạc hậu.
Nếu vận may không tốt, có khi vừa mới trang bị xong, thì một loại trang bị tân tiến hơn lại ra đời.
Vậy phải làm sao?
Không thay đổi thì lạc hậu, mà thay đổi nữa thì tài chính không chịu nổi.
Huống chi, dù có thay đổi, ai có thể đảm bảo rằng sẽ không có vũ khí tân tiến hơn xuất hiện?
Trong tình huống này, cần phải thử thách khả năng phán đoán của mọi người.
