Từ khi bước vào kỹ nguyên tàu chiến bọc thép, hãi quân Áo đã trỗi dậy mạnh mẽ. Sự mở rộng không ngừng của hải quân Áo đã buộc các nước châu Âu phải chạy đua theo.
Nếu không có cuộc phản loạn ở Ấn Độ nổ ra, kìm hãm sức lực của người Anh, chính phủ Vienna hẳn đã sớm cảm nhận được áp lực.
Thậm chí, đã có người trong chính phủ Luân Đôn hô hào muốn đạt tiêu chuẩn "tam cường" (vượt qua tổng trọng tải hải quân của ba cường quốc xếp thứ hai, ba và tư).
Dĩ nhiên, đó chỉ là lời nói suông, trên thực tế người Anh chưa bao giờ làm được.
Giờ đây, đừng nói đến tiêu chuẩn "tam cường", ngay cả tiêu chuẩn "nhị cường", Franz cũng hoài nghi liệu người Anh có thể đạt được hay không.
Tổng trọng tải hải quân Pháp và Áo cộng lại đã gần bằng Hải quân Hoàng gia. Nếu xét đến yếu tố tàu chiến bọc thép, thực lực của Hải quân Hoàng gia không còn đủ sức chiếm ưu thế trước Pháp và Áo.
Tuy nhiên, một khi cuộc phản loạn ở Ấn Độ bị dập tắt, trong một thời gian dài sắp tới, người Anh có thể sẽ đạt được tiêu chuẩn "nhị cường". Trong ngắn hạn, Franz chưa có ý định tiếp tục phát triển hải quân, để tránh kích thích thần kinh nhạy cảm của người Anh.
Thực ra, đã kích thích rồi, chỉ là họ tạm thời không rảnh để ý đến mà thôi.
Nếu chính phủ Sa Hoàng có tiềm lực tài chính tốt, Franz cũng định giúp người Nga phát triển hải quân, để chọc giận thêm chính phủ Luân Đôn.
Việc này không mâu thuẫn, chỉ cần kích thích người Anh, họ sẽ dồn nhiều tiền của hơn vào tàu chiến bọc thép. Nhưng trên thực tế, những quân hạm này chỉ là sản phẩm mang tính chất quá độ, càng chế tạo nhiều thì khi đổi mới, tổn thất càng lớn.
Nếu không phải vì can thiệp vào cuộc chiến tranh Nam-Bắc, Franz đã không chế tạo nhiều tàu chiến bọc thép đến vậy. Xét về tính năng quân sự, những quân hạm này sẽ sớm bị đào thải.
Chính vì cân nhắc đến việc chạy đua vũ trang có thể dẫn đến chiến tranh, Franz không muốn trở thành kẻ đi đầu. Nếu Anh và Nga tranh bá, đương nhiên phải để người Nga lên trước.
Trước khi thống nhất vùng Germany, Franz không có ý định trực tiếp đối đầu với người Anh, việc này lợi bất cập hại.
...
Washington, cuộc bầu cử quyết định vận mệnh nước Mỹ đã kết thúc. Hiệu ứng cánh bướm của Franz không ảnh hưởng đến cuộc bầu cử lần này, Abraham Lincoln của đảng Cộng hòa đã đắc cử Tổng thống thứ 16 của Mỹ với số phiếu áp đảo.
Sự ra đời của vị tổng thống đại diện cho lợi ích của các nhà tư bản phương Bắc đã gây ra sự hoảng loạn và căm hờn trong giới chủ đồn điền phương Nam. Để bảo vệ lợi ích của mình, họ bắt đầu liên kết với nhau.
Ngày 20 tháng 12 năm 1860, đại diện các chủ đồn điền phương Nam tổ chức hội nghị ở bang Nam Carolina, quyết định ly khai liên bang.
Họ còn tuyên bố "Tuyên ngôn về chế độ nô lệ", hoan nghênh các bang ly khai liên bang và gia nhập quốc gia mới thành lập - Liên minh các bang miền Nam Hoa Kỳ.
Tin tức lan truyền đến châu Âu, ngay lập tức gây ra chấn động. Franz lập tức triệu tập nội các họp để bàn bạc các biện pháp đối phó.
Ngoại trưởng Wesenberg phân tích: "Xung đột giữa miền Nam và miền Bắc nước Mỹ đã âm ỉ từ lâu, kết quả cuộc bầu cử lần này đã cho thấy giới chủ đồn điền phương Nam đã thất bại toàn diện trong cuộc đấu tranh chính trị.
Để bảo vệ lợi ích của mình, họ buộc phải ly khai liên bang và thành lập quốc gia mới.
Xét theo luật pháp Mỹ, các bang này có quyền ly khai.
Tuy nhiên, các nhà tư bản phương Bắc chắc chắn sẽ không đồng ý, họ vẫn muốn có nguồn nguyên liệu công nghiệp giá rẻ và thị trường tiêu thụ. Nếu để các bang này rời đi, những nỗ lực trước đây của họ sẽ trở nên vô ích.
Trừ khi chính phủ phương Bắc nhượng bộ, nếu không giới chủ đồn điền phương Nam sẽ không thể quay trở lại, những lời kêu gọi của Lincoln thực chất chỉ là hình thức.
Cuộc chia rẽ Nam-Bắc lần này không chỉ vì vấn đề bãi bỏ chế độ nô lệ, mà cốt lõi còn là vấn đề thuế quan, điều mà ông ta không hề đề cập đến.
Nếu Lincoln cam kết giảm thuế đối với nông sản, quyết tâm độc lập của giới chủ đồn điền phương Nam có thể sẽ dao động. Hiện tại, hai bên chỉ có thể giải quyết bằng chiến tranh.
Nội chiến Mỹ bùng nổ, chiến lược thuộc địa châu Mỹ của chúng ta đã thành công một nửa, một nước Mỹ bị chia rẽ càng phù hợp với lợi ích của chúng ta.
Tuy nhiên, thực lực tổng hợp của hai miền Nam-Bắc chênh lệch khá lớn, hiện tại chính phủ miền Nam chỉ có 7 bang tham gia, e rằng không phải là đối thủ của chính phủ phương Bắc."
Không cần phải nói, chính phủ Vienna hoàn toàn ủng hộ việc chia rẽ nước Mỹ. Nhất là sau khi chiến lược ở châu Mỹ được triển khai, điều này càng trở nên cần thiết.
Bộ trưởng Nội vụ Windischgraetz bình tĩnh nói: "Bề ngoài mà nói, chính phủ phương Bắc mạnh hơn.
Nhưng trên thực tế, không phải tất cả các bang miền Bắc đều sẵn sàng tham gia cuộc chiến này, phần lớn người dân Mỹ không mong muốn chiến tranh nổ ra. Họ chỉ có thể dựa vào việc các nhà tư bản nắm giữ dư luận để lừa gạt dân chúng ra chiến trường.
Các bang miền Nam thì khác, họ bị dồn vào đường cùng. Liên quan đến lợi ích sống còn, nhiệt tình nhập ngũ của người dân miền Nam cao hơn nhiều.
Trong ngắn hạn, chính phủ miền Nam có khả năng chiếm ưu thế trên quân sự; nếu chiến tranh kéo dài, ưu thế về nhân lực của miền Bắc mới có thể dần chuyển hóa thành sức mạnh quân sự.
Tôi cho rằng chỉ cần các thống soái miền Nam thông minh hơn, ngay khi chiến tranh nổ ra, hãy chiếm lấy Washington, sau đó đàm phán với chính phủ phương Bắc.
Ngược lại, ai cũng thích thấy kẻ giàu mới nổi gặp xui xẻo, các nước châu Âu chắc chắn sẽ ủng hộ việc chia rẽ nước Mỹ."
Thủ tướng Felix nghỉ ngờ nói: "Điều này rất khó thực hiện, xét về mặt quân sự, chính phủ miền Nam có thể chiếm Washington ngay lập tức.
Nhưng họ không có cách nào ngăn cản chính phủ Mỹ rút lui. Số lượng bang trung thành với liên bang ở miền Bắc rõ ràng nhiều hơn, hành động quân sự của miền Nam sẽ kích thích các bang trung lập gia nhập.
Thực lực của chính phủ miền Nam có hạn, họ không thể chiếm được vài bang, rồi sẽ kiệt sức. Chính phủ phương Bắc sẽ phản ứng lại, dựa vào thực lực hùng hậu, vẫn sẽ áp đảo miền Nam.
Trên thực tế, mấu chốt của vấn đề hiện tại không phải là hai miền Nam-Bắc đánh nhau như thế nào, mà là ai có thể lôi kéo được nhiều đồng minh hơn.
Nước Mỹ có tổng cộng 35 bang, 16 bang có chế độ nô lệ, hiện tại mới có 7 bang tuyên bố độc lập, hoạt động chính trị của hai bên trong thời gian tới mới là yếu tố quyết định thắng bại của cuộc chiến này.
Nếu chính phủ miền Nam có thể lôi kéo 16 bang có chế độ nô lệ cùng nhau độc lập, thuyết phục thêm vài bang trung lập, thực lực của hai bên sẽ gần bằng nhau.
Nếu thực lực hai bên ngang nhau, với sự can thiệp của các nước châu Âu, không phải là không có cơ hội giải quyết vấn đề một cách hòa bình."
Ngoại trưởng Wesenberg giải thích: "Thưa ngài Thủ tướng, tình huống lý tưởng này e rằng sẽ không xảy ra.
Công tác ngoại giao của chính phủ miền Nam căn bản là không đạt yêu cầu, không biết họ lấy sự tự tin từ đâu, đến bây giờ vẫn chưa tìm kiếm sự giúp đỡ từ chúng ta.
Tôi không ảo tưởng về việc họ có thể thuyết phục được bao nhiêu bang gia nhập. Về mặt dư luận, các nhà tư bản phương Bắc chiếm vị trí chủ đạo, nếu họ không nỗ lực đủ, e rằng không ít bang có chế độ nô lệ cũng sẽ ngả về chính phủ phương Bắc.
Dù sao, thực lực của các nhà tư bản ở một số bang có chế độ nô lệ cũng không hề nhỏ. Nếu phản ứng chậm, e rằng các bang liên bang vốn nghiêng về họ cũng sẽ bị chính phủ phương Bắc lôi kéo đi."
Sự tự tin của chính phủ miền Nam là gì? Đương nhiên là bông vải!
Vào thời điểm đó, ở nước Anh có khoảng một phần năm dân số sống trực tiếp hoặc gián tiếp nhờ vào ngành dệt bông vải, trong đó 80% phụ thuộc vào nguồn cung từ các bang miền Nam.
Chính phủ Luân Đôn tuyệt đối không thể dung thứ cho việc chuỗi cung ứng bông vải gặp vấn đề, tiếc rằng họ đã không để ý đến việc năm 1860 bông vải được mùa lớn, thị trường Luân Đôn chứa tới 50% lượng bông vải dự trữ.
Sự sơ suất này vô cùng chí mạng, nhiều nhà tư bản coi việc phong tỏa miền Bắc là cơ hội tốt để xử lý hàng tồn kho và kiếm lợi nhuận khổng lồ.
Với những người này cản trở, cộng thêm ảnh hưởng đến ngành dệt không quá nghiêm trọng, chính phủ Luân Đôn rơi vào tranh cãi, không can thiệp toàn lực vào nội chiến Mỹ ngay từ đầu.
Sau đó, họ khó khăn lắm mới đạt được thỏa thuận với Pháp và Tây Ban Nha để can thiệp, lại bị người Pháp chơi một vố. Cộng thêm công tác vận động hành lang của chính phủ phương Bắc, chính phủ Luân Đôn lại do dự.
Mấy lần do dự, bông vải từ Ấn Độ và Ai Cập cũng được trồng ra. Các nhà tư bản Anh giảm bớt hứng thú với bông vải của chính phủ miền Nam, sự can thiệp quốc tế cứ thế bị trì hoãn.
Đến khi chính phủ Luân Đôn đưa ra quyết định, chính phủ miền Nam đã không còn khả năng xoay chuyển tình thế.
Đối mặt với chính phủ miền Nam có công tác ngoại giao không đạt yêu cầu, Franz cũng vô cùng đau đầu. Vốn có lợi thế, lại không biết tận dụng, uổng phí cơ hội.
Nếu chính phủ miền Nam tích cực hơn một chút, dù là vì nhu cầu chiến lược hay vì lợi ích, mọi người đều sẽ ủng hộ họ.
Dù sao đi nữa, vì đánh vào người Mỹ, bây giờ Franz chỉ có thể nhắm mắt làm ngơ, vẫn phải giúp đỡ chính phủ miền Nam.
"Bộ Ngoại giao liên lạc với Anh và Pháp, chúng ta cùng nhau thuyết phục nhiều bang chăn nuôi gia nhập chính phủ miền Nam, chắc hẳn họ sẽ không ngại ngần hố người Mỹ một vố.
Tìm thêm mấy tờ báo tiết lộ tin tức bông vải được mùa, khó bán, tiện thể nhấn mạnh tin tức sản lượng bông vải ở Ấn Độ, Ai Cập, Tây Phi tăng vọt.
Tìm mấy chuyên gia học giả phân tích tính nghiêm trọng của vấn đề, để những người nắm quyền ở chính phủ miền Nam tỉnh táo lại, biết rằng vũ khí bông vải của họ không đáng tin."
Ngoài bông vải, còn có rất nhiều nông sản là sản phẩm chủ lực của người Mỹ, chỉ là những thứ này ở nơi khác cũng có.
Thậm chí Franz còn đang nghĩ, có nên phái người đốt kho bông vải của người Anh hay không. Ý nghĩ này chỉ thoáng qua, chủ yếu là kho bông vải quá nhiều, không phải vài người có thể đốt hết được.
Tuy nhiên, hiện tại phần lớn bông vải của miền Nam vẫn chưa được vận chuyển đi, chỉ cần chính phủ miền Nam cảnh giác, tạm ngừng việc vận chuyển bông vải, chính phủ Anh sẽ không bị trói buộc vào con thuyền của chính phủ miền Nam.
Dù sao, trồng bông vải ở Ấn Độ hay Ai Cập đều cần thời gian, các nhà máy trong nước không thể chờ đợi.
Trong lịch sử, trước khi chiến tranh bùng nổ, đã có người đề nghị chặn lại các đội thuyền chở bông vải này, cắt đứt việc buôn bán của chính phủ miền Nam.
Tuy nhiên, vì không muốn đắc tội người Anh, chính phủ Lincoln đã lựa chọn bỏ qua. Thậm chí trong suốt cuộc nội chiến Nam-Bắc, việc phong tỏa vận chuyển bông vải của miền Bắc cũng không nghiêm ngặt.
Nếu không, thực sự cắt nguồn cung bông vải của John Bull, người Anh đã sớm đánh rồi.
Không cần nghi ngờ, lục quân Anh tuy không ra gì, nhưng đối phó người Mỹ vẫn là phù hợp.
Chỉ cần Hải quân Hoàng gia phong tỏa bờ biển nước Mỹ, đưa một đống lính Ấn Độ lên, cũng có thể đè bẹp chính phủ phương Bắc.
Về phần hậu cần tiếp tế, không đáng sợ như trong tưởng tượng. Lương thực quan trọng nhất có thể do chính phủ miền Nam cung cấp, những thứ này hoàn toàn không thiếu.
Cần vận chuyển từ chính quốc chỉ là vũ khí đạn dược, lượng tiêu thụ đạn dược trong chiến tranh thời đó không lớn, là nước có nền công nghiệp lớn nhất thế giới, người Anh hoàn toàn có thể lo được.
Nói thẳng ra, chính phủ phương Bắc cũng chỉ có hơn hai mươi triệu người. Chiến tranh vừa nổ ra, còn bị miền Nam đánh tan mấy bang. Tiềm lực chiến tranh mà chính phủ phương Bắc có thể bộc phát cũng có hạn.
Ngay cả lực lượng mà người Anh dùng để trấn áp cuộc phản loạn ở Ấn Độ cũng đủ để viết lại kết cục của cuộc chiến tranh Nam-Bắc. Những binh lính vừa bị bắt lên súng đã bị đưa ra chiến trường nước Mỹ, căn bản không có sức chiến đấu.
