Logo
Chương 339: Chiến tranh tàn khốc

Năm 1862, vụ ám sát kéo dài mấy năm cuối cùng cũng hạ màn. Tổng hợp toàn bộ chứng cứ, thủ phạm đứng sau chỉ có thể là chính phủ Sardinia.

Mặc kệ người khác có tin hay không, chính phủ Paris chắc chắn tin, chính phủ Vienna cũng chấp nhận lời giải thích này.

Chính phủ Sardinia kháng nghị nhưng bị làm ngơ. Việc chính phủ Sardinia bí mật cung cấp kinh phí cho đảng Carbonari trước khi vụ ám sát nổ ra đã trở thành bằng chứng bất lợi nhất cho họ.

Mấu chốt là người Pháp còn có nhân chứng. Nghi phạm bị bắt giữ đã thú nhận mọi chuyện về vụ ám sát mà không hề kiêng kỵ, thậm chí đứng ra làm chứng chống lại chính phủ Sardinia.

Thủ tướng Cavour bị tống giam vì chuyện này. Nếu vận may không mỉm cười, ông ta có thể còn bị đưa lên đoạn đầu đài.

Thủ tướng và các quan chức cấp cao chính phủ đều bị bắt, quốc vương Vittorio Emanuele II cũng khó thoát khỏi trách nhiệm, và đã tuyên bố thoái vị hai ngày trước.

Những giao dịch lợi ích phía sau thì không cần phải nói chi tiết. Tóm lại, người Pháp đã phải trả một cái giá rất đắt để các quốc gia khác chấp nhận mọi chuyện đã xảy ra.

Franz kinh ngạc nói: "Người Anh cứ vậy mà bán đứng vương quốc Sardinia ư?"

Vốn dĩ, ông còn tưởng rằng quanh vương quốc Sardinia, Anh và Pháp sẽ có một trận long tranh hổ đấu, ai ngờ chính phủ London lại thỏa hiệp nhanh đến vậy.

Ngoại trưởng Wesenberg giải thích: "Bệ hạ, chúng ta ngầm chấp nhận hành động của người Pháp, người Nga lại đang bận cải cách nội bộ, không rảnh nhúng tay vào chuyện ở Italy, còn người Anh muốn can thiệp nhưng lực bất tòng tâm.

Hơn nữa, sự cân bằng ở châu Âu cũng không bị phá vỡ. Dù người Pháp có chiếm đoạt vương quốc Sardinia, họ cũng không thể thay đổi thế chân vạc của đại lục.

Người Anh bị tổn thất lợi ích, người Pháp cũng sẽ đền bù ở chỗ khác. Đoàn điều tra đã kê biên tài sản của gia đình nghi phạm, số tiền đó gần như đủ để hoàn trả khoản vay của người Anh.

Giờ đây, những trở ngại để người Pháp thôn tính vương quốc Sardinia về cơ bản đã được dọn sạch. Giờ chỉ còn chờ xem chính phủ Paris sẽ ra tay khi nào."

Franz cười lạnh: "Vậy Napoléon III có phải đang chuẩn bị cho một cuộc bầu cử để giành lấy vương vị không?"

Đừng nhìn lý do của người Pháp có vẻ hoàn toàn hợp lý, đáng tiếc những điều này hoàn toàn không đủ để họ thôn tính vương quốc Sardinia một cách hợp pháp.

Âm mưu dàn dựng vụ ám sát, truy cứu trách nhiệm chủ mưu là điều không sai, chính phủ Vienna cũng đang truy cứu trách nhiệm. Nhưng việc thôn tính vương quốc Sardinia vì lý do đó thì phải hỏi người dân Sardinia có đồng ý hay không đã.

Đặc biệt là việc ép Vittorio Emanuele II thoái vị lại là một nước cờ tồi trong chính trị. Ngay cả khi trao đổi lãnh thổ, việc "ăn" cũng phải đẹp một chút.

Nước Pháp có rất nhiều thuộc địa hải ngoại, tùy tiện ban cho Vittorio Emanuele II một danh hiệu nào đó còn tốt hơn là đuổi ông ta xuống đài.

Việc leo lên vương vị thông qua bầu cử dân chủ là cách ít hợp pháp nhất. Nói trắng ra, một ngày nào đó dân chúng không ưa ông ta nữa, họ có thể dùng cách tương tự để đá ông ta xuống.

Wesenberg đáp: "Theo những thông tin chúng ta thu thập được, người Pháp quả thực đang chuẩn bị cho một cuộc bầu cử."

Franz bình tĩnh nói: "Vậy thì giúp họ một tay, để những con tốt mà chúng ta đã cài cắm ủng hộ Napoléon III kiêm nhiệm quốc vương Sardinia, tạo dựng thanh thế cho ông ta trên dư luận."

Việc vương quốc Sardinia trực tiếp gia nhập nước Pháp hay Napoléon III kiêm nhiệm quốc vương Sardinia là một điểm rất quan trọng.

Nếu là vế trước, người dân Sardinia chắc chắn sẽ không đồng ý. Nhưng trên thực tế, điều này phù hợp nhất với lợi ích của nước Pháp. Trải qua những đau đớn trong ngắn hạn, mới có thể đảm bảo vương quốc Sardinia sẽ không ly khai.

Chỉ có điều làm như vậy, việc "ăn" sẽ hơi khó coi. Nhưng mọi chuyện đã đến nước này rồi, họ muốn "ăn" đẹp cũng khó. Hoặc là không làm, đã làm thì phải làm cho triệt để.

Nếu là vế sau, thì chỉ có thể trông cậy vào việc nước Pháp mãi hùng mạnh, có thể vĩnh viễn áp chế vương quốc Sardinia. Một khi nước Pháp có chút vấn đề, người ta sẽ ồn ào đòi độc lập ngay.

Người Ý không coi họ và nước Pháp là một nhà, cái gọi là nền tảng thống trị căn bản không tồn tại. Napoléon II cũng không có cách nào thu phục tầng lớp dân chúng thấp kém, để họ công nhận sự thống trị của ông ta.

Napoléon tuy giỏi, nhưng nền tảng của nhà Napoléon quá yếu, di sản chính trị mà ông ta để lại không đủ để Napoléon III thực hiện dã tâm chính trị của mình.

Franz thấm thía điều này. Áo có thể thuận lợi bành trướng ở châu Âu, phần lớn là nhờ vào di sản chính trị mà vương triều Habsburg để lại.

Mở sách lịch sử ra, trong mấy trăm năm qua, rất nhiều khu vực ở châu Âu đều đã bị vương triều Habsburg thống trị. Ngay cả khi bị đánh bại, ông ta vẫn có thể giương cao ngọn cờ phục hồi vương triều, dù có gượng gạo một chút thì cơ sở pháp lý vẫn tồn tại.

Không có di sản chính trị của tổ tiên, các bang của Đức ai thèm nể mặt ông ta? Ngay cả vùng Italy thuộc Áo cũng vậy, về mặt pháp lý, ông ta là chính thống.

Chính thống có ở cả phương Đông và phương Tây. Rất nhiều người nổi dậy ở phương Đông cũng giương cao ngọn cờ của triều đại trước. Không phải vì có thể nhận được bao nhiêu sự ủng hộ, chủ yếu là để chứng minh họ không phải là loạn đảng, họ có chính nghĩa chính thống.

Có chính nghĩa thì gọi là tranh bá thiên hạ, không có chính nghĩa thì chỉ là thảo khấu cường đạo. Cuối cùng thành công đều là tranh bá thiên hạ, chưa từng nghe nói thảo khấu cường đạo nào ngồi lên ngai vàng.

"Từ xưa, người không mưu vạn thế, không đủ mưu nhất thời, người không mưu toàn cục, không đủ mưu một nước".

Đây là lời Franz tự răn mình, luôn nhắc nhở bản thân phải cảnh giác.

...

Ngày 15 tháng 1 năm 1863, đưới sự ủng hộ của chính phủ Liên minh miền Nam, khu vực Indiana ở miền Trung tuyên bố độc lập thành lập quốc gia.

Khu vực này là nơi chính phủ Mỹ bố trí người Anh-điêng, từ năm 1830 đến năm 1840, hàng chục bộ lạc đã bị xua đuổi đến đây.

Chính phủ liên bang vẫn chưa áp dụng được sự thống trị hiệu quả ở nơi này, vì mối thù hận sâu sắc nên có rất ít cư dân da trắng địa phương. Trong lịch sử, mãi đến năm 1889, người da trắng mới ồ ạt tràn vào.

Chiến tranh kéo dài đến nay, hai bên so kè chính là tổng hợp quốc lực. Để giành chiến thắng, chính phủ miền Nam buộc phải lôi kéo thêm nhiều đồng minh hơn.

Đằng nào họ cũng đã độc lập, bán đứng lợi ích của chính phủ liên bang để mua chuộc đồng minh, họ không hề có bất kỳ áp lực nào.

Để lôi kéo người Anh-điêng tham chiến, chính phủ Liên minh đã cung cấp cho Tiểu vương quốc Indian mới độc lập 50.000 khẩu súng trường, 100 khẩu pháo và một lượng đạn dược.

Có vũ khí, người Anh-điêng bắt đầu báo thù. Bang Kansas trở thành nạn nhân đầu tiên.

Vốn dĩ họ đã bị quân miền Nam bang Missouri đánh cho tơi tả, đột nhiên bị người Anh-điêng đánh úp sau lưng, trong nháy mắt liền sụp đổ toàn tuyến.

Những người Anh-điêng ôm mối thù giết cha, phát động cuộc trả thù khốc liệt nhất, giết người tại chỗ máu chảy thành sông.

Không chỉ riêng chiến trường này, chiến tranh tiến hành đến nay, cả hai miền Nam Bắc đều đã giết đến đỏ mắt. Có những khu vực đã biến thành những cuộc tàn sát vô nghĩa, dân thường là những người bị hại nhiều nhất.

Các bang Ohio, Maryland, Kentucky, Virginia và các khu vực giao tranh khác cũng trở thành địa ngục trần gian.

Tính chất của cuộc chiến đã thay đổi. Trải qua sự tuyên truyền của cả hai chính phủ, thù hận đã trở thành một trong những yếu tố chính để duy trì cuộc chiến.

Những quốc gia chuẩn bị can thiệp đều bị sự điên cuồng của người Mỹ làm cho kinh hãi, vội vàng chọn cách án binh bất động.

Đừng hiểu lầm, mọi người không hề bị dọa sợ. Chủ yếu là muốn người Mỹ tiếp tục tàn sát lẫn nhau, tiêu hao thực lực của nhau, tốt nhất là lưỡng bại câu thương.

Vì thế, Anh và Áo đều đang dạy chính phủ miền Nam cách chơi ngoại giao, lôi kéo người Anh-điêng chỉ là một trong số đó.

New York, nhìn báo cáo thương vong mà chính phủ liên bang trình lên, Tổng thống Lincoln không dám nhìn thẳng.

Người Anh-điêng tham gia, bang Kansas thất thủ, 70.000 quân đội liên bang gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, thương vong dân thường còn vượt quá 300.000 người, những người còn lại cũng trở thành nạn dân chiến tranh, trốn vào khu vực phía Tây.

Điều này có ý nghĩa gì, ông quá rõ. Phạm vi chiến tranh một lần nữa được mở rộng, ngọn lửa chiến tranh lan đến khu vực miền Trung, áp lực chính trị và quân sự của chính phủ liên bang ngày càng gia tăng.

Nếu liên bang không thể giành được ưu thế, có lẽ rất nhiều bang liên bang cũng sẽ rút khỏi cuộc chiến này để bảo vệ an toàn cho mình. Trước sự sống còn, không có lợi ích nào là quan trọng cả.

Bánh vẽ có đẹp đến đâu, cũng phải để mọi người thấy có hy vọng ăn được. Bằng không, những nhà tư bản ủng hộ chính phủ liên bang cũng sẽ dao động.

Ít nhất là các nhà tư bản ở bang Kansas đã mất hết vốn liếng, không ít người còn mất cả mạng. Các nhà tư bản ở các bang giao tranh tiền tuyến cũng trở thành kẻ thua cuộc trong ván bài này.

Cho dù chính phủ liên bang có giành được thắng lợi hay không, họ cũng đã bị loại khỏi cuộc chơi.

Nếu không phải chính phủ miền Nam thiếu năng lực ngoại giao, Anh và Áo lại hy vọng thấy chiến tranh kéo dài hơn nữa, cố ý làm cho họ đi sai đường, thì giờ ít nhất cũng có vài bang đã rời khỏi cuộc chiến.

"Một tay củ cà rốt, một tay giơ gậy" mới là thao tác chính xác nhất. Nếu chính phủ miền Nam ngay từ đầu không đặt mục tiêu vào chính phủ miền Bắc, mà là chọn từng bang để tấn công chính trị, có lẽ các bang lân cận giờ đã chọn trung lập rồi.

Chống lại toàn bộ chính phủ liên bang, Liên minh miền Nam không có nắm chắc chiến thắng, nhưng đối phó với một hoặc vài bang liên bang thì căn bản không thành vấn để.

Gần như tất cả các nhà tư bản lớn đều sẽ chọn trung lập vì lợi ích của mình. Đặc biệt là sau thảm kịch ở bang Kansas, mọi người đều biết chính phủ liên bang không có khả năng bảo vệ an toàn cho họ.

Tổng thống Lincoln tự nhủ: "Nội chiến tiến hành đến nay, thương vong của chúng ta đã vượt quá ba triệu rồi sao?"

Ngoài cửa, Ngoại trưởng trả lời: "Vẫn chưa, nhưng có lẽ tuần sau sẽ đạt con số đó. Tổng số thương vong của quân đội liên bang là 1.768.000, trong đó có 456.000 người chết trận; thương vong dân thường là 1.182.000, trong đó có 382.000 người thiệt mạng."

(Lưu ý: Thương vong được tính theo số lần bị thương, trên lý thuyết một người lính bị thống kê bị thương hàng chục lần cũng có thể)

Lincon thở dài: "Nếu cộng thêm thương vong của quân nổi dậy, thì tổn thất nhân khẩu mà chúng ta phải trả cho cuộc chiến này có lẽ đã vượt quá 1.500.000 người.”

Hiển nhiên, ông hối hận đã phát động cuộc chiến này. Không chỉ Lincoln, rất nhiều người Mỹ cũng đang hối hận. Nếu mọi người biết chiến tranh sẽ tàn khốc như vậy, thì trước khi chiến tranh nổ ra, mọi người đã thỏa hiệp với nhau rồi.

Mặc dù lợi ích của các nhà tư bản và chủ đồn điền không thể điều hòa, nhưng các nhà tư bản và chủ đồn điền ở các bang giao tranh lại khác.

Lợi ích giai cấp không phải là lợi ích cá nhân, việc bán đứng giai cấp vì lợi ích của mình không gây áp lực cho các nhà tư bản.

Ngoại trưởng Saffar suy nghĩ một chút rồi nói: "Cái này còn phải xem tính toán thế nào. Nếu xét đến việc nội chiến làm giảm số lượng người nhập cư và người rời đi, thì tổn thất này có lẽ có thể tăng thêm một triệu nữa.

Không đúng, không thể nói là di dân. Trên thực tế, tổng số người nhập cư của chúng ta không giảm nhiều. Chỉ là số lượng người da trắng nhập cư giảm, nhưng số lượng người gốc Á và người da đen nhập cư lại đang tăng lên."

Việc người da đen nhập cư tăng lên thực tế là do bị ép buộc. Một lượng lớn thanh niên trai tráng gia nhập quân đội, gây ra tình trạng thiếu hụt lao động trong các ngành nghề.

Giờ lại là thời kỳ chiến tranh, người nhập cư từ các nước châu Âu căn bản không đến. Bất đắc dĩ, mọi người chỉ có thể tuyển lao động từ bên ngoài, việc người da màu nhập cư tăng lên là điều tất yếu.

Lincoln gật đầu: "Thảo nào binh lính da đen trong quân đội ngày càng nhiều, xem ra có không ít người dùng họ để thay thế nghĩa vụ quân sự."

Không phải ai cũng sẵn sàng ra chiến trường, nhất là các nhà tư bản giàu có, càng bài xích việc ra chiến trường. Ở đất nước của các nhà tư bản này, chính phủ liên bang đương nhiên không thể cưỡng chế các nhà tư bản phục vụ.

Thuê người thực hiện nghĩa vụ quân sự đã giải quyết hoàn hảo vấn đề này. Chính phủ liên bang có được binh lính, các nhà tư bản hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

Ngoại trưởng Saffar ủ rũ nói: "Thưa Tổng thống, tôi cảm thấy ngài không cần quan tâm đến những chuyện vụn vặt này.

Rắc rối lớn của chúng ta sắp đến rồi. Tuần sau quốc hội sẽ chất vấn, ngài đã nghĩ ra cách đối phó chưa?"

Về mặt chiến lược, chính phủ liên bang đã ngăn chặn được cuộc tấn công của chính phủ miền Nam, giữ được khu vực Ngũ Đại Hồ cốt lõi, đồng thời giữ được Washington, đã giành được thắng lợi theo từng giai đoạn.

Bang Kansas tuy nằm ở trung tâm nước Mỹ, nhưng về mặt địa lý, phía đông là đồi Flint, phía tây là đồi Smoky và đồi Red, gần biên giới bang Colorado lại là núi Sunflower.

Việc chính phủ miền Nam nắm giữ nơi này không có cách nào tiến quân về phía tây, phía đông bang Missouri vốn đã gia nhập chính phủ miền Nam, căn bản không cần quan tâm.

Một thất bại về mặt chiến thuật không ảnh hưởng lớn đến toàn bộ cục diện chiến tranh. Tổng thống Lincoln mới có thể ngồi yên, suy tính vấn đề tương lai.

Nếu bang Pennsylvania thất thủ, ông đã sớm không ngồi yên được rồi.

Lincoln không có vấn đề gì nói: "Việc đã đến nước này, có gì phải sợ. Cho dù tôi sẵn sàng từ chức ngay lập tức, cũng phải có người sẵn sàng tiếp nhận đống lộn xộn này mới được.

Trước khi chiến tranh kết thúc, quốc hội không thể nào đuổi chúng ta xuống đài. Nếu chính phủ liên bang thua chiến tranh, tội danh chia rẽ liên bang, vẫn cần chúng ta gánh."

Đây không phải là "cùi không sợ lở”, mà là ông thực sự hiểu rất rõ nền chính trị Mỹ. Tình hình hiện tại đối với chính phủ liên bang vẫn rất bất lợi, khả năng chính phủ liên bang bị chia rẽ là rất lớn, không ai muốn gánh tội danh chia rẽ liên bang.

Từ tình hình trước mắt, cho dù giành được cuộc chiến này, việc xử lý các bang miền Nam sau chiến tranh cũng là một rắc rối lớn. Bất kể ai ngồi vào vị trí này, kết cục cũng sẽ không tốt đẹp gì.