Logo
Chương 345: Can thiệp liên quân

Việc Maximiliano lên ngôi hoàng đế Mexico đã kích thích không ít người.

Phái cộng hòa trong nước phản đối thì không nói làm gì, vì ông ta được người Pháp dựng lên. Ngay cả những người thuộc phái lập hiến cũng lo lắng thế lực của Pháp sẽ tiếp tục mở rộng, nên chọn cách án binh bất động.

Trước khi Maximiliano đến Mexico, Lincoln đã bày tỏ thái độ phản đối Pháp can thiệp vào nội bộ Mexico, khiển trách Pháp đi ngược lại học thuyết Monroe.

Nhưng đó đều là chuyện nhỏ. Ngay cả chuyện nội bộ nước Mỹ còn bị can thiệp, thì ai còn để học thuyết Monroe vào mắt? Lời kháng nghị của Lincoln căn bản không ai để ý.

Tây Ban Nha đã chiếm đóng đảo Haiti, Áo đưa tay đến khu vực Trung Mỹ, Anh cố tình chiếm lại khu vực phía Tây, nên Pháp tự nhiên không cho rằng việc mưu đồ Mexico là sai trái.

Không trực tiếp thôn tính, mà chỉ nâng đỡ chính phủ bù nhìn thống trị, như vậy đã là rất "có tướng ăn" rồi. Ít nhất so với Áo, muốn biến các quốc gia Trung Mỹ thành tỉnh tự trị, thì nhìn qua còn "có tướng ăn" hơn.

Không chỉ chính phủ phương Bắc phản đối, ngay cả chính phủ phương Nam cũng phản đối Maximiliano lên ngôi hoàng đế Mexico. Họ lo lắng đế quốc Mexico phát triển sẽ tổn hại đến lợi ích của họ.

Trong bối cảnh đó, tháng 3 năm 1864, Maximiliano leo lên ngai vàng hoàng đế Mexico, sử gọi là Maximiliano I.

Ánh mắt của mọi người đều đổ dồn vào cuộc nội chiến Mỹ, nên chẳng ai hứng thú với vị hoàng đế Mexico mới này. Lễ lên ngôi có thể nói là tồi tệ nhất trong cả trăm năm qua.

Khách khứa chẳng ai ra hồn, đừng nói chi đến việc trông cậy vào giới quý tộc châu Âu tự mình đến dự. Cho dù phái đại biểu thì cũng cần lộ phí chứ?

Trang trí sơ sài cũng không sao, dù sao cũng chỉ là một nghỉ thức. Quan trọng vẫn là biểu hiện sau này. Thất bại thì gọi là sơ sài, thành công thì gọi là quý mến sức dân.

Mấu chốt là phái cộng hòa gây sự, tổ chức diễu hành rầm rộ ngay trong ngày đăng quang, yêu cầu hoàng đế cuốn xéo.

Ngay tại lễ đăng quang, đã có mấy tên trẻ trâu muốn phá hoại buổi lễ, cũng may lính vệ kịp thời phản ứng, ngăn chặn hành vi xấu xa này.

Đây coi như là những người có thực lực ở Mexico, cho hoàng đế một đòn phủ đầu, dùng cách đặc biệt này để nói với Maximiliano I: "Ngươi không được hoan nghênh đâu, nếu thông minh thì hợp tác với chúng ta đi."

...

Ngay sau khi Maximiliano lên ngôi không lâu, hai miền Nam Bắc đã phát động một trận quyết chiến lớn.

Vào trung tuần tháng 4 năm 1864, ở khu vực giáp ranh giữa tiểu bang Pennsylvania và tiểu bang Ohio, chính phủ phương Bắc tập kết 420.000 quân, chính phủ phương Nam tập kết 340.000 quân.

Thắng bại của cuộc hội chiến này sẽ quyết định tương lai của nước Mỹ.

Nếu chính phủ phương Bắc thua trận, tiểu bang Pennsylvania sẽ thất thủ, khu công nghiệp Ngũ Đại Hồ sẽ rơi vào tay chính phủ phương Nam, và chính phủ phương Bắc cơ bản không còn khả năng xoay chuyển tình thế.

Ngược lại, nếu chính phủ phương Nam thua trận, những lợi thế khó khăn lắm mới tích lũy được từ trước sẽ tan thành mây khói.

Chính phủ phương Bắc có thể thừa thắng xông lên, thu phục tiểu bang Ohio và tiểu bang Maryland, sau đó dùng ưu thế quân sự nghiền nát chính phủ phương Nam.

Ánh mắt của các quốc gia đều đổ dồn về đây, họ hy vọng hai miền Nam Bắc mãi mãi không phân thắng bại.

Từ khi nội chiến bùng nổ đến nay, tổng sản lượng công nghiệp của nước Mỹ đã giảm 43%, sản lượng nông sản giảm 37%.

Đặc biệt là các tiểu bang nằm trên chiến trường như Ohio, Indiana, Kansas, Maryland, Iowa, Illinois, Missouri, Kentucky chịu tổn thất nặng nề nhất.

Tổng dân số nước Mỹ giảm xuống dưới 30 triệu. Chiến tranh gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho đất nước này, phải mất mười năm mới có thể khôi phục lại trình độ trước chiến tranh. Các bang giao chiến sẽ phải mất hai ba mươi năm để hàn gắn vết thương.

Người Mỹ càng đánh nhau thảm khốc, các nước châu Âu càng có lợi. Những người buôn bán vũ khí thì khỏi phải nói, ai nấy đều phát tài to.

Các ngành công nghiệp khác cũng thu được lợi lớn. Lấy Áo làm ví dụ, khi nước Mỹ - một nước xuất khẩu lương thực lớn - bị ảnh hưởng, giá lương thực quốc tế tăng 13%, khiến nước xuất khẩu nông sản lớn nhất châu Âu này nghiễm nhiên trở thành người thắng lớn nhất.

Ngoài nông sản, hàng hóa công nghiệp của Áo cũng xuất hiện trên thị trường châu Mỹ. Tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng 46% so với trước chiến tranh.

Anh và Pháp cũng không kém cạnh, lợi dụng cơ hội này để bành trướng ở châu Mỹ. Đặc biệt là chính phủ phương Nam yếu kém về công nghiệp, hiện đang sử dụng phần lớn hàng hóa công nghiệp đến từ các nước châu Âu.

Các bang phương Bắc cũng chẳng khá hơn là bao. Khi nền kinh tế chuyển sang phục vụ chiến tranh, các sản phẩm dân dụng khác giảm mạnh, thị trường tràn ngập hàng hóa châu Âu.

Đừng tưởng Franz sớm tích trữ vũ khí để chiếm đoạt cơ hội buôn bán, trên thực tế, người Anh mới là kẻ hưởng lợi lớn nhất về kinh tế.

Là bá chủ công nghiệp thế giới, John Bull vượt qua tổng số của các quốc gia khác về xuất khẩu hàng hóa công nghiệp, và nghiễm nhiên trở thành người thu được lợi ích lớn nhất.

Kể từ khi Anh, Pháp, Áo và Tây Ban Nha quyết định đạt được nhất trí về vấn đề nước Mỹ, các công sứ của bốn nước thường xuyên tụ họp trao đổi ý kiến, thỉnh thoảng cũng xảy ra tranh cãi.

Đại diện của Áo, Drucker, đề nghị: "Chư vị, thời khắc then chốt đã đến. Lần hội chiến này dù ai thắng ai thua, chúng ta nhất định phải ra mặt can thiệp.

Nếu hành động chậm trễ, khi hai bên đã phân thắng bại, thì việc can thiệp sẽ phải trả giá đắt hơn. Tôi đề nghị lập tức tổ chức liên quân can thiệp, trực tiếp dùng vũ lực nhúng tay vào nội chiến Mỹ."

Đại diện của Pháp, Alfredt, phản đối: "Thưa ngài, bây giờ chúng ta ra tay có phải là quá sớm không? Dù ai giành chiến thắng trong cuộc hội chiến này, cũng sẽ tổn thất nặng nề, trong ngắn hạn không có khả năng phản công toàn diện.

Cuộc chiến này sẽ còn kéo dài rất lâu. Lợi dụng nội chiến để tiêu hao tối đa thực lực của người Mỹ mới là lựa chọn tốt nhất.

Nếu chúng ta bây giờ đã xuống nước, thì cả chính phủ phương Nam lẫn chính phủ phương Bắc đều còn giữ lại thực lực quân sự rất mạnh, bất lợi cho các hoạt động tiếp theo của chúng ta ở Bắc Mỹ."

Đó chỉ là cái cớ. Mấu chốt là người Pháp đang tập trung sức lực giải quyết các vấn đề ở Mexico, nên nếu bây giờ phải xuất binh can thiệp vào nội chiến Mỹ, họ sẽ không có đủ binh lực.

Lợi ích luôn đi liền với thực lực. Lực lượng đầu tư càng lớn, lợi nhuận thu được sau chiến tranh càng nhiều.

Ai cũng là cường quốc lão luyện, chẳng ai dễ chơi cả. Chỉ muốn chiếm lợi mà không muốn bỏ công sức, đừng mơ mộng nữa.

Điều Alfredt muốn làm nhất bây giờ là trì hoãn thời gian, chờ họ giải quyết xong việc ở Mexico, rồi mới can thiệp vào nội chiến Mỹ để tối đa hóa lợi ích.

Ngược lại, ông ta thấy rằng việc Anh, Pháp, Áo và Tây Ban Nha liên thủ can thiệp vào cuộc nội chiến này là hoàn toàn dễ dàng. Đừng nói là nước Mỹ đang bị thương nặng, ngay cả khi nước Mỹ hồi phục hoàn toàn, cũng không thể đồng thời chống lại bốn nước.

Đại diện của Anh, Mario, chậm rãi nói: "Nội chiến Mỹ đánh đến bây giờ, cả hai bên đều đã mệt mỏi, khó có thể kéo dài thêm nữa.

Nếu không phải cả hai bên đều muốn không chịu nổi, thì đã không có cuộc quyết chiến này. Từ tình hình trên chiến trường, ai cũng thấy rõ rằng cả hai miền Nam Bắc đều chuẩn bị cho cuộc hội chiến này rất vội vàng.

Muốn tiếp tục chờ đợi, chẳng ai dám đảm bảo điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Lỡ hai bên phân thắng bại rồi thỏa hiệp thì sao?

Là bên thứ ba, nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội can thiệp tốt nhất, thì lợi ích của chúng ta sau chiến tranh sẽ được đảm bảo như thế nào?

Tôi ủng hộ đề nghị của Drucker. Bây giờ chúng ta phải lập tức tổ chức quân đội can thiệp, tránh cho tình hình xấu đi, gây tổn hại đến lợi ích của chúng ta."

Hai so với một, lá phiếu của Tây Ban Nha trở thành yếu tố quyết định. Nếu họ ủng hộ Pháp, thì tỷ số sẽ là hai so với hai, vấn đề này vẫn còn phải bàn; ngược lại, đó là thiểu số phục tùng đa số, đề nghị được thông qua.

Công sứ Tây Ban Nha, Francesco, nói: "Theo tôi được biết, mối liên hệ giữa chính phủ hai miền Nam Bắc chưa bao giờ gián đoạn. Để tránh tình huống xấu nhất xảy ra, tôi ủng hộ việc xây dựng quân đội can thiệp."

Không nằm ngoài dự đoán, công sứ Tây Ban Nha, Francesco, đã đưa ra lựa chọn phù hợp nhất với lợi ích của mình.

Nếu kế hoạch can thiệp này thất bại, ba quốc gia giàu có là Anh, Pháp và Áo cũng gánh chịu tổn thất, chỉ riêng Tây Ban Nha là không sao.

Người Mỹ từ lâu đã nhòm ngó Cuba, mà Cuba lại là thuộc địa giàu có nhất của Tây Ban Nha, hàng năm mang lại cho họ một lượng tài sản lớn. Nếu đối mặt với một nước Mỹ thống nhất, họ không có khả năng bảo vệ hòn đảo này.

Trước lợi ích cốt lõi, người Tây Ban Nha không dám mạo hiểm. Vì vậy, Tây Ban Nha tỏ ra rất tích cực trong vấn đề chia cắt nước Mỹ. Dù trong nước có nhiều mâu thuẫn, họ vẫn gia nhập liên minh can thiệp.

Công sứ Anh, Marl Oliver, nói tiếp: "Ba so với một, đề nghị được thông qua. Bây giờ chúng ta hãy thống kê số lượng quân đội mà mỗi quốc gia sẽ xuất binh, để đảm bảo cuộc can thiệp diễn ra suôn sẻ.

Great Britain có thể điều động hạm đội châu Mỹ, bao gồm 5 tàu chiến bọc thép, 16 tàu chiến buồm, 38 tàu chiến các loại khác, và 80.000 quân lục chiến.”

Đây gần như là toàn bộ lực lượng vũ trang cơ động của người Anh ở khu vực Bắc Mỹ, rõ ràng họ đã dốc hết vốn liếng, chuẩn bị chia cắt hoàn toàn nước Mỹ.

Công sứ Áo, Drucker, suy nghĩ một chút rồi nói: "Hạm đội châu Mỹ của chúng tôi cũng có thể điều động, nhưng hiện tại chỉ có 3 tàu chiến bọc thép và hơn 30 tàu chiến các loại ở khu vực bờ biển phía Tây. Lục quân có thể điều động 50.000 người."

Đây là phần lớn lực lượng quân sự của Áo ở khu vực châu Mỹ hiện tại. Nếu không phải gần đây trong nước tăng viện một lần, thì cũng không thể huy động được nhiều quân đến vậy.

Dù sao, khu vực Trung Mỹ vẫn chưa ổn định, các tổ chức dân binh địa phương rõ ràng là không thể động đến. Không thể can thiệp vào nước khác một cách hoàn hảo, để rồi thuộc địa của mình lại bị mất.

Công sứ Tây Ban Nha, Francesco, bất lực nói: "Chúng tôi có thể điều động hạm đội Cuba, với hơn 50 tàu chiến các loại, trong đó có 1 tàu chiến bọc thép. Lục quân chúng tôi có thể điều động 70.000 người."

Hết cách rồi, Tây Ban Nha thật sự đã suy tàn. Nếu không phải vì giữ thể diện, thì chiếc tàu chiến bọc thép này cũng sẽ không có. Về phần 70.000 quân lục chiến, con số này bao gồm cả quân đội được tạo thành từ thổ dân địa phương, sức chiến đấu không rõ.

Ba người nhìn về phía Alfredt. Pháp là lực lượng lục quân chủ lực của liên quân can thiệp, ngày thường ông ta cũng hay khoe khoang, giờ đến lượt họ thể hiện.

Do dự một lát, Alfredt đưa ra quyết định: "Chúng tôi có thể điều động hạm đội châu Mỹ, với hơn 50 tàu chiến các loại, bao gồm 3 tàu chiến bọc thép. Lục quân có thể điều động 60.000 người."

Dù thế nào đi nữa, Pháp không thể mất mặt. Vấn đề Mexico sẽ được giải quyết sau, hành động này liên quan trực tiếp đến việc phân chia lợi ích ở châu Mỹ sau chiến tranh.

Sân sau của người Mỹ, chẳng bao lâu nữa sẽ lại biến thành bãi săn của bốn nước. Không, thực ra bây giờ đã là bãi săn của mọi người rồi, chỉ còn thiếu một phần điều ước phân chia phạm v thế lực của các quốc gia.