Đặt cuốn "Chiến lược châu Phi" xuống, Franz chỉ còn biết cảm thán về mục tiêu to lớn của bộ thuộc địa, một hơi khoanh vùng hơn nửa lục địa châu Phi.
Đúng vậy, là khoanh vùng chứ không phải chiếm lĩnh. Hiện tại Áo còn chưa hoàn thành một phần ba kế hoạch này, khu vực thực tế kiểm soát có lẽ chưa đến một phần năm.
Dù Franz đã nỗ lực di dân, số dân gốc châu Âu tại châu Phi thuộc Áo vẫn chưa tới năm triệu người.
Với số dân ít ỏi như vậy mà kiểm soát bảy, tám triệu ki-lô-mét vuông lãnh thổ, mức độ đất rộng người thưa có thể tưởng tượng được.
Tất nhiên, đó là chưa tính đến thổ dân địa phương, nếu tính cả thì đã có hơn chục triệu.
Nếu muốn hoàn thành các bước tiếp theo của chiến lược, không có mấy chục triệu dân là không thể. Trong khi toàn bộ dân số của Đế quốc La Mã Thần thánh mới chỉ vừa vượt qua ngưỡng sáu mươi triệu.
Thế giới hiện tại đã sắp bị chia cắt xong, những vùng đất vô chủ cuối cùng chắc chắn sẽ có một trận long tranh hổ đấu.
Trước mắt Pháp và Áo là hai nước đi đầu trong việc thực dân hóa châu Phi, theo sát phía sau là Anh, Bồ Đào Nha và Hà Lan cũng có một vài thuộc địa nhỏ.
Chiến lược thực dân quy mô lớn này, nên dùng "lý tưởng chiến lược" để hình dung thì hơn.
Chỉ cần các quốc gia không ngốc, sẽ không để kế hoạch này trở thành sự thật.
Nhìn sơ qua bản đổ, phạm vì đại khái là: phía tây lên Guinea, Mali, phía bắc tới Libya, phía nam giáp các nước cộng hòa của người Boer, phía đông tới Somalia.
Dù thời đại này chưa có định vị vệ tinh, Franz áng chừng một chút, tổng diện tích những khu vực này cộng lại cũng phải xấp xỉ hai mươi triệu ki-lô-mét vuông.
Suy nghĩ một lúc, Franz cầm bút lên gạch một đường lớn lên trên bản đồ, chuẩn bị trả lại để bộ thuộc địa làm lại.
Chiến lược không thực tế này căn bản không khả thi. Trừ phi khơi mào một cuộc thế chiến, Áo trở thành người chiến thắng lớn, mới có vốn để thực hiện.
Nhưng Franz không phải kẻ cuồng chiến tranh, và Áo cũng không phải nước Đức thời Đệ nhị Đế chế, nhất định phải thách thức cả thế giới.
Dù nhiều người cho rằng Đức gây chiến vì phát triển kinh tế, cần tài nguyên và thị trường, Franz lại cho rằng chủ yếu là vì tài nguyên, vì vấn đề thị trường có thể giải quyết được.
Kinh tế thế giới là một vòng tuần hoàn lớn, kinh tế quốc gia là một vòng tuần hoàn nhỏ. Về lý thuyết, chỉ cần vòng tuần hoàn này vận hành bình thường, kinh tế sẽ phát triển bền vững.
Cốt lõi của vòng tuần hoàn kinh tế này là dân số và tài nguyên. Hiện tại toàn thế giới có khoảng một tỷ dân.
Trong đó: khu vực châu Âu khoảng 270 triệu, chủ yếu là Nga, Áo, Pháp, Anh cộng lại đã vượt quá 200 triệu.
Khu vực châu Á khoảng 820 triệu, hai nước phương Đông có quy mô dân số lớn cộng lại đã có 700 triệu, các khu vực còn lại cũng là đất rộng người thưa.
Lục địa châu Phi ước chừng 60 triệu, hoạt động thực dân khiến dân số tăng trưởng, nhưng do những năm gần đây có. nhiều người di cư, nhiều khu vực đã tăng trưởng âm.
Khu vực châu Mỹ khoảng hơn 60 triệu, đây mới thực sự là đất rộng người thưa. Cả Bắc và Nam Mỹ cộng lại chỉ có ít người như vậy, hai nước Mỹ đã chiếm một nửa.
Hiện tại, tổng kim ngạch mậu dịch quốc tế không lớn, kinh tế các quốc gia chủ yếu vẫn dựa vào nội địa. Lấy Áo làm ví dụ, mậu dịch quốc tế chiếm tỷ trọng chưa đến 5% tổng số.
Nếu tính cả mức mua bán với thuộc địa vào nền kinh tế bản địa, thì mậu dịch quốc tế trong tổng số kinh tế của Áo càng không đáng nhắc tới.
Đó là do lực lượng sản xuất quyết định. Tổng tài sản xã hội có hạn, hàng hóa xuất khẩu lại quá đơn nhất, kim ngạch buôn bán căn bản không thể tăng lên.
Hiện tại trên thị trường quốc tế, mặt hàng xuất khẩu lớn nhất là hàng dệt, tiếp theo là lương thực. Các mặt hàng chế tạo, cơ khí thiết bị hầu như không có thị trường lớn.
Tổng số hàng hóa xuất khẩu trên toàn thị trường quốc tế cộng lại, chưa đến một tỷ bảng Anh, thậm chí chưa đến bảy trăm triệu bảng Anh.
Thị trường chỉ lớn như vậy, kinh tế chủ lực của các quốc gia đều là thị trường nội địa. Anh, Pháp, Áo tùy tiện nước nào, tổng số kinh tế nội địa đều không phải một tỷ có thể cân nhắc, thấp nhất phải dùng hai ba tỷ.
Trong thời đại kinh tế trong nước làm chủ đạo, quan trọng nhất vẫn là tuần hoàn nội bộ. Chỉ cần có đủ tài nguyên, về lý thuyết kinh tế sẽ phát triển bình thường.
Có thể tham khảo nước Mỹ. Nhiều người cho rằng châu Mỹ Latin là sân sau của Mỹ, là nơi tiêu thụ hàng hóa ế ẩm của Mỹ.
Thực tế, cả vùng châu Mỹ Latin chỉ có hơn hai triệu dân, 60-70% là bộ lạc người Indian, có sức mua quái gì.
Các quốc gia Nam Mỹ lại không mua hàng Mỹ, họ thà nhập khẩu hàng châu Âu, chứ không mua đồ bỏ đi của Mỹ.
Vậy mà, từ cuối thế kỷ 19, kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng đột biến, tăng trưởng chín lần trong vòng bốn mươi năm.
Đó chính là sức mạnh của tài nguyên. Cũng thiếu thị trường tiêu thụ hàng hóa, người Đức bị tư bản ép lên chiến trường, còn tư bản Mỹ có thể ổn định, dựa vào chính tài nguyên phong phú của họ.
Theo Franz, "tài nguyên" mới là cốt lõi của thực dân. Dưới lý niệm này, mới có phong trào bản địa hóa thuộc địa.
Do dự hồi lâu, Franz không bác bỏ thẳng thừng "Kế hoạch viển vông" này. Hắn rất ghét vẽ bánh, nhưng lại không thể phủ nhận vẽ bánh rất hiệu quả.
Nếu không thì trong lịch sử đã không có nhiều kế hoạch viển vông đến vậy. Ví dụ như: Kế hoạch 2C của người Anh, nối Cairo với Nam Phi, trực tiếp từ nam lên bắc.
Bao gồm: Ai Cập, Sudan, Uganda, Kenya, Zambia, Zimbabwe, Botswana, Nam Phi, Tanzania.
Kế hoạch này rất đồ sộ, nhưng John Bull cuối cùng đã thực hiện được. Tuy nhiên, nó không duy trì được bao lâu thì đế quốc thực dân sụp đổ.
Là người đến sau, Đức cũng đưa ra "Kế hoạch châu Phi Teuton", kế hoạch này không tham vọng lắm, chỉ bao gồm: Namibia, Angola, Congo, Tanzania.
Chiến lược có thành công hay không phụ thuộc vào thực lực, không liên quan đến tham vọng lớn nhỏ, nên kế hoạch này chết yểu.
"Kế hoạch 2S" của Pháp cũng hơi biến thái. Sau khi chiếm Bắc Phi, Pháp còn chuẩn bị từ Senegal đánh tới Somalia.
Kế hoạch này cũng không khác gì kế hoạch của Áo. "Guinea đến Somalia" và "Senegal đến Somalia" chênh lệch không nhiều.
Về phần việc Áo phía nam giáp các nước cộng hòa của người Boer, hiện tại đã miễn cưỡng thực hiện được, ở vùng Zimbabwe xuất hiện căn cứ địa của hàng ngàn người thực dân.
Phía bắc tới Libya cũng không khó khăn, dù sao đó là khu vực đất liền châu Phi, đối thủ cạnh tranh chưa với tới khu vực này.
Chỉ có phía đông tới Somalia là còn xa vời, ở giữa là Sudan và Ethiopia. Tất nhiên, có thể đi vòng qua Uganda, Kenya.
Thực tế thao tác, tuyệt đối không đơn giản như vậy. Vì chiến lược thực dân của Áo gom hết những khu vực này vào.
Dù sao, về mặt tinh thần là đáng khen. Nếu kế hoạch này được trình lên, tức là bộ thuộc địa cho rằng có khả năng thành công.
Tất nhiên, thành công này không phải là hoàn thành toàn bộ mục tiêu, chỉ là hoàn thành kế hoạch trên chiến lược, thiếu vài vùng thuộc địa là không thể tránh khỏi.
Cân nhắc đây là thời điểm then chốt của bản địa hóa thuộc địa, Franz ngầm cho phép kế hoạch này tồn tại, nhưng khi áp dụng cụ thể, chắc chắn không thể cứng nhắc như vậy.
Ví dụ như: ưu tiên các khu vực có sông ngòi liên thông, sa mạc để sau, tạm gác lại những nơi thổ dân hùng mạnh, kiểm chế việc mở rộng ở những khu vực có thể gây xung đột...
Thời đại này, châu Phi không có đường biên giới, phần lớn là các bộ lạc thổ dân, nói đến khái niệm quốc gia là quá xa vời.
Chiến lược thực dân này, tự nhiên sẽ không đi theo đường biên giới sau này. Thực tế, Franz cũng không có cách nào tìm ra đường biên giới sau này trên bản đồ.
Sau một hồi sửa đổi, Franz đã thu hẹp thành công kế hoạch chiến lược này.
Ví dụ như: không tranh giành sa mạc Bắc Phi với Pháp, dù sao thời đại này cũng không kiểm soát được.
Cụ thể là: hơn nửa Mali không cần, vùng Niger cũng về cơ bản không cần. Nếu không phải để liên kết với Libya, Eranz đã định bỏ Chad, bây giờ là miễn cưỡng giữ lại.
Ethiopia, Somalia ở phía đông cũng bị Franz xếp xuống cuối cùng. Khi chưa chiếm lĩnh các khu vực khác, sẽ không chú ý đến những khu vực này.
Namibia, Tanzania xếp thứ hai từ dưới lên, về cơ bản thuộc khu vực bị bỏ qua. Các khu vực còn lại tùy thuộc vào khả năng của thuộc cấp, có thể chiếm được bao nhiêu thì tính bấy nhiêu.
Như vậy, kế hoạch này đã co lại xấp xỉ một phần ba, tính khả thi tăng lên đáng kể.
Chiếm hơn nửa lục địa châu Phi quá gây hấn, nhưng chiếm một phần ba hoặc bốn mươi phần trăm châu Phi, Franz cho là có thể thành công.
Đây là sự kết hợp giữa thực lực và lợi thế tiên cơ. Một khi chiến lược bản địa hóa thành công, sẽ là một thời điểm di dân cao điểm. Chỉ cần có đủ dân số, Franz không ngại bất kỳ thách thức nào ở châu Phi.
Ví dụ như khu vực Tây Phi, khu vực Congo hiện tại, có trên triệu dân địa phương, ai có khả năng cướp đi những nơi này?
Chiến tranh cần chi phí, nếu không đủ lợi ích, căn bản không đủ để các đế quốc thực dân phát động chiến tranh.
Trên lục địa châu Phi, ngoài mỏ vàng Nam Phi, không nơi nào đủ để các nước lớn sử dụng bạo lực.
Thực tế, mỏ vàng Nam Phi cũng không đáng để hai nước lớn đổ máu. Dù trữ lượng vàng cao, nhưng trước khi khai thác, nó cũng chỉ là vậy thôi.
Đừng nhìn sản lượng hàng năm mấy trăm tấn, thực tế khai thác vàng cũng cần chỉ phí. Phải dựa vào vàng để thu hồi chỉ phí chiến tranh, Franz không cảm thấy có thể thực hiện được trong đời mình.
