Đỗ Phủ
Đạo này xưa kia quy thuận [2], Tây Giao Hồ Chính phồn [3].
Đến nay tàn phá gan [4], xứng đáng không chiêu hồn [5].
Hầu cận về Kinh ấp [6], dời quan há chí tôn [7].
Không tài ngày già yếu, trú mã mong thiên môn [8].
【 Chú thích 】
[1] Chí đức hai năm: Công nguyên 757 năm. Kinh: Chỉ Trường An. Đường vắng: Vắng vẻ đường nhỏ. Phượng tường: Tại nay Thiểm Tây. Trái nhặt của rơi, chức vụ khuyên nhủ quân chủ, tiến cử nhân tài, thuộc Môn Hạ tỉnh. Dời: Đây là giáng chức ý tứ. Hoa Châu: Nay Thiểm Tây hoa huyện.
[2] Quy thuận: Chỉ đào thoát phản quân về phượng tường, đi nhờ vả Túc tông.
[3] Hồ: Ở đây chỉ An Lộc Sơn binh sĩ.
[4] Bể mật: Táng đảm, kinh hãi.
[5] Không chiêu hồn: Chỉ người sống thần hồn, ý gọi là suy đoán phản quân chiếm giữ lúc, thần dân thần hồn kinh tán chi thường, xứng đáng không chiêu mà không về chi hồn.
[6] Hầu cận: Chỉ bái trái nhặt của rơi. Kinh ấp: Chỉ Hoa Châu, bởi vì hệ kỳ huyện, cách kinh thành Trường An không xa.
[7] Dời quan: Điều động chức quan, chỉ từ trái nhặt của rơi ngoại phóng vì Hoa Châu ti công tham quân. Há chí tôn: Chẳng lẽ xuất từ hoàng đế chi ý.
[8] Thiên môn: nguyên chỉ trong cung môn hộ, ở đây ẩn dụ cung điện, hình dung hắn kiến trúc to lớn, môn hộ rất nhiều.
【 Địa điểm thi 】
Bản thơ biểu đạt thi nhân nhớ nhung Kinh quốc thâm tình, làm nổi bật lên người thống trị hắc bạch không phân biệt, lãnh khốc vô tình.
