Lưu Thận Hư
Đạo Do Bạch Vân tận [2], xuân cùng thanh khê dài [3].
Thường có hoa rơi đến, xa theo nước chảy hương.
Nhàn môn hướng đường núi [4], sâu liễu đọc sách đường [5].
U chiếu mỗi ban ngày [6], thanh huy chiếu y phục.
【 Chú thích 】
[1] Khuyết Đề: Tức thiếu đề. “Khuyết” : Thông “Thiếu”. Bởi vì bản thơ nguyên đề đang lưu truyền quá trình bên trong di thất, hậu nhân tại biên thơ lúc lấy “Khuyết Đề” Làm tên.
[2] Đạo Do Bạch mây tận: Chỉ đường núi tại trắng mây nơi tận cùng, cũng tức tại Trần cảnh bên ngoài.
[3] Xuân: Xuân ý, tức trong thơ nói tới hoa liễu.
[4] Nhàn môn: Chỉ trước cửa thanh tịnh, hoàn cảnh thanh u, tục khách không tới môn.
[5] Sâu liễu: Tức rậm rạp cây liễu.
[6] Mỗi: Mỗi khi.
【 Thi nhân giới thiệu vắn tắt 】
Lưu Thận hư (714—767), cũng làm thận hư, Thịnh Đường thi nhân. Chữ toàn bộ Ất, cũng chữ rất khanh, hào Dịch Hiên, Hồng Châu Tân Ngô ( Nay Giang Tây phụng mới huyện ) người.
Hắn tinh thông kinh sử, thơ nhiều u tiễu chi thú, phong cách xấp xỉ Mạnh Hạo Nhiên, Thường Kiến. Hắn làm người so sánh đạm bạc, giao du đa số núi tăng đạo lữ, hắn thơ viết nhiều sơn thủy ẩn dật chi thú, nhất là am hiểu ngũ ngôn. Ân phan 《 Non sông Anh Linh Tập 》 ghi chép hắn thơ mười một bài.
【 Địa điểm thi 】
Bản thơ miêu tả thông hướng thâm sơn biệt thự dọc đường u nhã hoàn cảnh, miêu tả bạn bè trong núi ẩn cư thú vị.
