Logo
Từ Hà Nam trải qua loạn quan nội ngăn cơ huynh đệ ly tán đều tại một chỗ bởi vì vọng nguyệt có cảm giác trò chuyện sách chỗ nghi ngờ gửi nổi lên Lương đại huynh với tiềm Thất huynh ô sông mười lăm huynh kiêm bày ra phù cách cùng phía dưới khuê đệ muội [1]

Bạch Cư Dị

Lúc khó khăn năm hoang thế nghiệp khoảng không [2], huynh đệ sống nơi đất khách quê người tất cả tây đông [3].

Điền viên trống vắng can qua sau [4], cốt nhục lưu ly con đường bên trong.

Treo ảnh chia làm ngàn dặm nhạn [5], từ căn tán làm chín Thu Bồng [6].

Chung nhìn rõ nguyệt ứng rơi lệ, một đêm hương tâm năm nơi cùng [7].

【 Chú thích 】

[1] Hà Nam: Thời nhà Đường Hà Nam đạo, hạt nay Hà Nam tỉnh đại bộ cùng núi đông, Giang Tô, An Huy ba tỉnh bộ phận khu vực. Quan nội: Quan nội đạo, hạt nay Thiểm Tây đại bộ cùng Cam Túc, Ninh Hạ, bên trong Mông Cổ bộ phận khu vực. Ngăn cơ: Gặp nạn đói các loại khó khăn. Phù Lương đại huynh: Bạch Cư Dị huynh trưởng trắng ấu văn, trinh nguyên mười bốn, mười lăm năm (798—799) ở giữa Nhậm Nhiêu Châu phù lương ( Nay thuộc Giang Tây Cảnh Đức Trấn ) chủ bộ. Với tiềm Thất huynh: Bạch Cư Dị thúc phụ trắng quý khang trưởng tử, lúc vì với tiềm ( Nay Chiết Giang Lâm An huyện ) huyện úy. Ô Giang mười lăm huynh: Bạch Cư Dị từ huynh trắng dật, đương nhiệm Ô Giang ( Nay An Huy cùng huyện ) chủ bộ. Phù cách: Tại nay An Huy túc trong huyện. Bạch Cư Dị phụ thân tại Bành thành ( Nay Giang Tô Từ châu ) làm quan nhiều năm, liền đem nhà an trí tại phù cách. Phía dưới khuê: Huyện tên, trị sở tại nay tỉnh Thiểm Tây vị nam huyện. Bạch thị nguyên quán từng tại này.

[2] Lúc khó khăn năm hoang: Chỉ gặp chiến loạn cùng thiên tai. Thế nghiệp: Tổ truyền sản nghiệp. Đường đại năm đầu phổ biến dạy Điền Chế Độ, truyền thụ chi ruộng phân “Chia ruộng theo nhân khẩu” Cùng “Thế nghiệp ruộng”, người chết sau, tử tôn có thể kế thừa “Thế nghiệp ruộng”.

[3] Sống nơi đất khách quê người: Phiêu bạt lang thang.

[4] Can qua: Cổ đại hai loại binh khí, này đại chỉ chiến tranh.

[5] Treo ảnh: Một thân một mình một chỗ, hình bóng làm bạn, không có bạn lữ. Ngàn dặm nhạn: Ví dụ các huynh đệ cách nhau ngàn dặm, tất cả như cô nhạn cách nhóm.

[6] Từ căn: Cỏ cây rời đi gốc, ví dụ các huynh đệ riêng phần mình ly biệt quê hương. Chín Thu Bồng: Cuối thu thời tiết theo gió phiêu chuyển bồng thảo, cổ nhân dùng để ví dụ người xa quê tại tha hương phiêu bạt. Chín thu: Mùa thu.

[7] Hương tâm: Tưởng nhớ thân luyến hương chi tâm. Năm nơi: Tức thơ đề lời nói năm nơi.

【 Địa điểm thi 】

Bản thơ là một bài cảm tình đậm đà thơ trữ tình. Toàn bộ ý thơ tại tả kinh loạn sau đó, hoài niệm chư vị huynh đệ tỷ muội. Là thi nhân tại Ngô Việt tránh loạn lúc sở tác, thẳng tự lưu ly nỗi khổ.